- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Minh K - Nguyễn Hương G - Nguyễn Hồng Diệu L - Lê Diệu A - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L, Lê Diệu A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 346/2026/HS-ST Ngày: 14/7/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Hồng Vân
Ông Nguyễn Văn Thư
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Xuân Giang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 14/7/2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 – Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 299/2026/HSST ngày 04/6/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 370/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2026 đối với:
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Minh K, sinh năm 2006; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Số A Ngõ B K, phường H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Việt P và Bà: Nguyễn Thị Thu P2; Danh chỉ bản số 4401 lập ngày 16/9/2025 tại PC11A – Phân trại Đống Đa; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt (đầu thú), bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 06/9/2025; Huỷ bỏ biện pháp tạm giam ngày 29/01/2026. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên toà).
2. Họ và tên: Nguyễn Hương G, sinh năm 2003; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Số A Ngõ B T, phường T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia đoàn phái, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị Thanh H; Chồng: Lưu Quang T2; bị cáo có 02 con; Danh chỉ bản số 13 lập ngày 28/10/2025 tại Công an phường Kim Liên, Thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên toà).
3. Họ và tên: Nguyễn Hồng Diệu L, sinh năm 2003; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Số A Ngõ B L, phường T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Hồng Q và bà Nguyễn Mai H2; Danh chỉ bản số 4400 lập ngày 16/9/2025 tại PC11A – Phân trại Đống Đa; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt (đầu thú), bị tạm giữ từ ngày 06/9/2025; Huỷ bỏ biện pháp tạm giam ngày 29/01/2026. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên toà).
4. Họ và tên: Lê Diệu A, sinh năm 2006; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Số 187 Phố Huế, phường Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số A Ngõ T, phường K, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Không xác định; Con bà: Lê Thị Bích T3; Danh chỉ bản số 4531 lập ngày 20/9/2025 tại PC11A – Phân trại Đống Đa; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/9/2025; Huỷ bỏ biện pháp tạm giam ngày 29/01/2026. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên toà).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Minh K: Luật sư Vũ Quang D – Văn phòng Luật sư H – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phan Anh T4, sinh năm 2005; Địa chỉ: Số A đường B N, phường H, Thành phố Hà Nội (có mặt).
2. Chị Phạm Hà V, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ A, phường H, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
3. Chị Lê Ngọc V2, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ B, phường H, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
4. Anh Hồ Lương H3, sinh năm 2006; Địa chỉ: C B, phường B, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
5. Anh Nguyễn Hoàng H4, sinh năm 2006; Địa chỉ: L, tổ D phường V, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
6. Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 2003; Địa chỉ: A H, tổ C, phường T, tỉnh Hưng Yên (có mặt).
7. Chị Lê Diệu A2, sinh năm: 2006.
Nơi thường trú: Số B phố H, phường H, Thành phố Hà Nội.
Nơi ở: Số A ngõ B T, phường K, Thành phố Hà Nội (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước nên khoảng 22 giờ ngày 31/8/2025, Phạm Hà V (sinh năm 2006, trú tại tổ A, phường H, Thành phố Hà Nội), Nguyễn Hoàng H4 (sinh năm 2006, trú tại L, tổ D phường V, Thành phố Hà Nội), Lê Ngọc V2 (sinh năm 2006, trú tại Tổ B, phường H, Thành phố Hà Nội), Hồ Lương H3 (sinh năm 2006, trú tại C B, phường B, Thành phố Hà Nội), H và bạn trai của H (đều không xác định được nhân thân) đến nhà Nguyễn Thị Minh K tại số A Ngõ B K, phường H, Thành phố Hà Nội để nói chuyện. Tuy nhiên, K không xuống gặp mà hẹn nhóm của Hà V ra khu vực phố T, phường T, Thành phố Hà Nội. Trước khi đi, K nhắn tin thông báo cho Nguyễn Hồng Diệu L, Nguyễn Hương G biết, đồng thời gọi điện thoại thông báo cho Nguyễn Đức M (sinh năm 2003, trú tại A H, tổ C, phường T, tỉnh Hưng Yên). Sau đó, M đến đón K đi gặp nhóm Hà V tại khu vực phố T. Quá trình nói chuyện, hai bên xác định mâu thuẫn do hiểu lầm, nguồn gốc mâu thuẫn là do Lê Diệu A. Do đó, tất cả thống nhất đến tìm Diệu A để nói chuyện làm rõ sự việc. Hà V gọi điện cho Diệu A thông báo về việc đã nói chuyện với K và hẹn gặp Diệu A. Diệu A đồng ý và gửi vị trí gặp nhau ở phố T, phường K, Thành phố Hà Nội. Sau đó, nhóm Hà V đi đến phố T trước. K chia sẻ hành trình trực tiếp của mình lên nhóm cho G, Diệu L biết. Một lúc sau, Lê Tùng L2 (sinh năm 2003, trú tại số A ngõ B G, phường G, Thành phố Hà Nội) chở G; Phan Anh T4 (sinh năm 2005, trú tại số A đường B N, phường H, Thành phố Hà Nội) chở Diệu L đến gặp K tại khu vực phố G, phường B, Thành phố Hà Nội. Lúc này, nhóm K đã có 6 người gồm: K, M, Diệu L, T, G, Tùng L2 và cùng di chuyển đến khu vực trước số A T cùng nhóm Hà V đợi Diệu A.
Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 31/8/2025, Diệu A đến điểm hẹn và nói chuyện giải quyết mâu thuẫn với Hà V, Ngọc V2, K, Diệu L, G. Trong quá trình nói chuyện, Diệu A, K, G xảy ra cãi vã, chửi bới nhau, Diệu A thách thức nhóm của K. Lúc này, G cầm mũ bảo hiểm đập nhiều nhát vào vùng đầu, người của Diệu A. Thấy vậy, Ngọc V2 và Hà V đứng vào vỉa hè. Diệu A khi bị G đánh cũng dùng điện thoại đánh vào mặt của G; Diệu L, K cũng lao vào dùng tay chân đánh Diệu A. K dùng hai tay túm tóc và dùng chân đá vào người Diệu A. Diệu A cũng túm tóc kéo K xuống, dùng chân tay đánh lại K. Sau đó, G nhặt mũ bảo hiểm khác ở dưới đất tiếp tục đánh vào vùng đầu, lưng của Diệu A, Diệu L dùng tay chân không đánh Diệu A. Các đối tượng đánh nhau kéo lê dưới lòng đường T từ khu vực trước số nhà A sang số nhà B rồi đến trước số nhà C T. Trong lúc Diệu A và Kh đang túm tóc giằng co nhau, Diệu L vật Diệu A xuống lòng đường, G được một đối tượng đưa cho mũ bảo hiểm khác đánh vào người Diệu A rồi tất cả dừng lại.
Trong quá trình xảy ra vụ việc, các đối tượng tụ tập đông người, hò hét, chửi bới đuổi đánh nhau dưới lòng đường gây mất trật tự an ninh khu phố, mất an toàn giao thông.
Cơ quan điều tra đã thu giữ được các video, clip ghi lại vụ việc. Quá trình điều tra xác định Lê Tùng L2 là người quay đoạn video ghi nhận nội dung sự việc trên. Sau đó, do G yêu cầu nên L2 đã gửi video cho G. Việc L2 quay video không bàn bạc trước với G và L2 không đăng lên mạng xã hội.
Tại bản Kết luận giám định số 855/KL-KTHS ngày 21/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video gửi giám định.
Ngày 22/09/2025, Uỷ ban nhân dân phường K, Thành phố Hà Nội có Công văn kiến nghị số 561/UBND-VP gửi Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đề nghị cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự Gây rối trật tự công cộng xảy ra vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 31/8/2025, tại khu vực trước số A T, phường K, Thành phố Hà Nội theo quy định pháp luật, nhằm đảm bảo an ninh trật tự xã hội trên địa bàn phường K.
Tại cơ quan điều tra, K, G, Diệu L, Diệu A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về thương tích của các đối tượng:
Đối với Lê Diệu A: 01 vết xước da sau tai phải dài khoảng 7cm; 01 vết xây xát kích thước 2x2cm trên đầu gối phải; các vết xước nhỏ trên cánh tay trái và mặt; phù nề phần mềm dưới da đầu vùng trán phải.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 53/KLTTCT-TTPY của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Hà Nội kết luận:
"- Các vết xước da nông vùng cổ, cẳng tay trái nhiều khả năng không lại vết biến đổi sắc tố da: 00%;
- Vùng đầu, gáy không sưng nề bầm tím, không có vết thương: 00%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Lê Diệu A tại thời điểm giám định là không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Cơ chế hình thành thương tích do vật tày có cạnh gây nên."
Đối với Nguyễn Hương G: Vùng quanh 02 mắt thâm tím.
Đối với Nguyễn Thị Minh K: Bị bầm tím ở tay trái, đầu gối và cổ.
K và G từ chối khám thương và giám định thương tích, không đề
nghị xử lý Diệu A đối với thương tích của bản thân.
Đối với Phạm Hà V, Lê Ngọc V2, Hồ Lương H3, Nguyễn Hoàng H4, Phan Anh T, Nguyễn Đức M, Lê Tùng L2 quá trình điều tra xác định Hà V, Ngọc V2, H3, H4, T, M, Tùng L2 không có hành vi gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với đối tượng đưa mũ bảo hiểm cho G để đánh Diệu A, tài liệu điều tra không xác định được thông tin của đối tượng này nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Ngày 11/3/2026, Nguyễn Thị Minh K đã nộp cho cơ quan điều tra 59 tờ giấy A4, bên trong có nội dung về những bài viết đăng nói xấu, bôi nhọ K và rải tờ rơi. K đề nghị cơ quan điều tra làm rõ đối tượng đã đăng những thông tin đó vì nghi ngờ cho Diệu A. Quá trình điều tra xác định những bài viết đăng đó từ những tài khoản mạo danh, những trang page hiện giờ cũng không còn hoạt động. Tài liệu cơ quan điều tra thu thập không xác định được ai là người đã thực hiện. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Quá trình điều tra, cơ quan công an đã thu giữ của K 01 điện thoại di động Iphone 13 màu vàng; thu giữ của G 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu đen; thu giữ của Diệu L 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu trắng; thu giữ của Diệu A 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax màu xám; thu giữ của Phan Anh T 01 điện thoại di động Iphone 12 màu bạc; thu giữ của Phạm Hà V 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng; thu giữ của Lê Ngọc V2 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu tím; thu giữ của Hồ Lương H3 01 điện thoại di động Samsung Note 10 màu bạc; thu giữ của Nguyễn Hoàng H4 01 điện thoại di động Iphone 15 pro màu bạc; thu giữ của Nguyễn Đức M 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu đen.
Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hồng Diệu L, Nguyễn Hương G không có yêu cầu bồi thường dân sự. Đối với thương tích của bản thân, Lê Diệu A yêu cầu bồi thường về chi phí điều trị, tổn hại sức khỏe và tổn thất tinh thần tổng số tiền là 100.000.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 141/CT-VKS, ngày 27/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L và Lê Diệu A về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị Minh K từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.
Bị cáo Nguyễn Hồng Diệu L từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.
Bị cáo Nguyễn Hương G từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng.
Bị cáo Lê Diệu A từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy các mảnh vỡ mũ bảo hiểm màu trắng.
- Tịch thu xung công 01 điện thoại di động Iphone 13 màu vàng thu giữ của K; 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu đen thu giữ của G; 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu trắng thu giữ của Diệu L; 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax màu xám thu giữ của Diệu A.
- Trao trả cho Phan Anh T 01 điện thoại di động Iphone 12 màu bạc; Phạm Hà V 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng; Lê Ngọc V2 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu tím; Hồ Lương H3 01 điện thoại di động Samsung Note 10 màu bạc; Nguyễn Hoàng H4 01 điện thoại di động Iphone 15 pro màu bạc; Nguyễn Đức M 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu đen.
- Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L không có yêu cầu bồi thường.
Đối với thương tích của bản thân, bị cáo Lê Diệu A yêu cầu bồi thường về chi phí điều trị, tổn hại sức khoẻ và tổn thất tinh thần tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo chỉ yêu cầu bồi thường tiền viện phí và thu nhập bị mất với số tiền 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L đã bồi thường đầy đủ cho bị cáo Lê Diệu A số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo Diệu A không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Minh K - Luật sư Vũ Quang D trình bày: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Nhìn nhận một cách khách quan, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của bị cáo K là không đáng kể bởi các lý do: Sự việc xảy ra vào ban đêm, đường phố không có người qua lại, không phá phách, thời gian diễn ra nhanh chóng, không có người dân chứng kiến. Về nhân thân bị cáo: Gia đình có công với cách mạng, cụ ngoại bị cáo là người có nhiều đóng góp trong ngành kiểm sát, cụ bà là Mẹ Việt Nam anh hùng; ông bà nội của bị cáo đều là cán bộ cao cấp trong ngành công an; bố đẻ bị cáo hiện là sĩ quan cao cấp trong quân đội. Bản thân bị cáo K là người có nhiều thành tích xuất sắc trong học tập cũng như trong công tác Đoàn tại nhà trường và địa phương. Bị cáo đã tự nguyện đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt. Đề nghị HĐXX không áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật hình sự. Áp dụng điểm s, v khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo K và các bị cáo khác trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L, Lê Diệu A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo là thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người liên quan và vật chứng thu được của vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 31/8/2025, để giải quyết mâu thuẫn của bản thân, Nguyễn Thị Minh K đã rủ Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L gặp Lê Diệu A tại khu vực trước số A T, phường K, Thành phố Hà Nội. Tại đây, G đã có hành vi dùng mũ bảo hiểm đánh nhiều lần vào đầu, người của Diệu A; K và Diệu L có hành vi dùng tay chân không đánh Diệu A, Diệu A có hành vi cầm điện thoại đánh vào mặt của G và túm tóc đánh K. Quá trình đánh nhau hai bên đều chửi bới hò hét to gây mất trật tự trị an khu phố. Uỷ ban nhân dân phường K, Thành phố Hà Nội có văn bản đề nghị cơ quan điều tra khởi tố vụ án Gây rối trật tự công cộng nhằm đảm bảo an ninh trật tự xã hội trên địa bàn phường.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L, Lê Diệu A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Trật tự an toàn xã hội được xác lập trên cơ sở các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và được mọi người trong xã hội thừa nhận, tôn trọng và tuân thủ. Các bị cáo đều là người trưởng thành, tại thời điểm phạm tội các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, đều nhận thức được hành vi phạm tội của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân.
Xét thấy đây là vụ án đồng phạm giản đơn các bị cáo đều giữ vai trò thực hành, các hành vi phạm tội mang tính bột phát, mức độ phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Căn cứ vào mức độ hành vi của từng bị cáo trong khi xảy ra vụ việc để quyết định hành phạt. Bị cáo G và Diệu A là người khởi xướng hành vi gây rối nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo K và Diệu L.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo Diệu A có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của tổ dân phố; bị cáo K, G, L “đầu thú” nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà để các bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân tốt và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ các mảnh vỡ mũ bảo hiểm màu trắng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với những chiếc điện thoại mà các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội: 01 điện thoại di động Iphone 13 màu vàng thu giữ của Nguyễn Thị Minh K; 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu đen thu giữ của Nguyễn Hương G; 01 điện thoại di động Iphone 14 Plus màu trắng thu giữ của Nguyễn Thi Diệu L; 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax màu xám thu giữ của Lê Diệu A.
Đối với những chiếc điện thoại thu giữ của Phan Anh T, Phạm Hà V, Lê Ngọc V2, Hồ Lương H3, Nguyễn Hoàng H4, Nguyễn Đức M, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại. Cụ thể như sau: trả lại 01 điện thoại di động Iphone 12 màu bạc thu giữ của Phan Anh T; 01 điện thoại di động Iphone 13 màu hồng thu giữ của Phạm Hà V; 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu tím thu giữ của Lê Ngọc V2; 01 điện thoại di động Samsung Note 10 màu bạc thu giữ của Hồ Lương H3; 01 điện thoại di động Iphone 15 pro màu bạc thu giữ của Nguyễn Hoàng H4; 01 điện thoại di động Iphone 11 pro màu đen thu giữ của Nguyễn Đức M.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hồng Diệu L, Nguyễn Hương G không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên toà, bị cáo Lê Diệu A chỉ yêu cầu các bị cáo bồi thường tiền viện phí và thu nhập bị mất với số tiền 30.000.000 đồng. Ghi nhận các bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L đã bồi thường đầy đủ cho bị cáo Lê Diệu A số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo Diệu A không có yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L, Lê Diệu A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh K 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Minh K cho Uỷ ban nhân dân phường H, Thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hương G 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Diệu L 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Hương G và Nguyễn Hồng Diệu L cho Uỷ ban nhân dân phường T, Thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Xử phạt bị cáo Lê Diệu A 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Diệu A cho Uỷ ban nhân dân phường K, Thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 106, 135, 136, 331, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo Nguyễn Thị Minh K, Nguyễn Hương G, Nguyễn Hồng Diệu L đã bồi thường đầy đủ cho bị cáo Lê Diệu S số tiền 30.000.000 đồng. Bị cáo Diệu A không có yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
* Tịch thu tiêu huỷ các mảnh vỡ mũ bảo hiểm màu trắng.
* Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 màu hồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 promax màu đen bị vỡ lưng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 Plus màu trắng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 Promax màu xám bị vỡ lưng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong.
* Trả lại chị Phạm Hà V 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 13 màu hồng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
* Trả lại chị Lê Ngọc V2 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 14 promax màu tím bị vỡ lưng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
* Trả lại anh Hồ Lương H3 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu bạc, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
* Trả lại anh Phan Anh T 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Promax màu xám, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
* Trả lại cho anh Nguyễn Hoàng H4 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 15 pro màu xám, đã qua sử dụng, mặt kính phía trước và mặt lưng phía sau bị vỡ, cụm camera bị rời khỏi thân máy, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;
* Trả lại cho anh Nguyễn Đức M 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 pro màu xám bị vỡ lưng, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong.
Các Vật chứng trên đang lưu giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 Thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 367 ngày 19/6/2026 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 Thành phố Hà Nội.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND khu vực 2 – Hà Nội; - THADS KV2 – Hà Nôi; - Bị cáo; Người liên quan; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đức Quân |