- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thu H - Chủ tịch và UBND phường H"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu H.
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------------------------------------- ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Bản án số: 346/2025/HC-ST Ngày: 31/7/2025 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoàng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Quế
Ông Lê Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liên – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30/7/2025 và 31/7/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 18/2025/TLST-HC ngày 03/01/2025 về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2025/QĐXXST-HC ngày 06/6/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 193/2025/QĐ-HPT ngày 21/6/2025, Thông báo 637/TB-HC ngày 15/7/2025 về việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, Thông báo 646/TB-HC ngày 16/7/2025 về việc mở lại phiên tòa; giữa các đương sự: Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thu H (tên gọi khác Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị
Thu H) sinh ngày 15/9/1960, căn cước công dân số 001160024579 cấp
ngày 14/4/2021; địa chỉ: Số A ngõ G đường Ỷ, phường D, thành phố Hà
Nội; điện thoại 0386268145 (Có mặt) Người bị kiện: Chủ tịch và Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hà Nội;
địa chỉ: Số B phố H, phường H, thành phố Hà Nội; kế thừa quyền và
nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp của người bị kiện:
1. Bà Trần Thị Lương A - Chủ tịch, là người đại diện theo pháp luật (Vắng
mặt có ủy quyền).
2. Ông Bùi Huy Q sinh năm 1980 - Phó Chủ tịch, là người đại diện theo uỷ
quyền (Vắng mặt có đơn) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ban quản lý dự án đầu tư - hạ tầng phường H, thành phố Hà Nội; địa
chỉ: Số A đường L, phường H, thành phố Hà Nội; kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của Trung tâm phát triển quỹ đất quận H.
2. Công ty TNHH MTV Đ; địa chỉ: Tầng D, tầng E Tòa nhà N, Khu đô thị
X, phường H, thành phố Hà Nội.
3. Ông Nguyễn Xuân C sinh ngày 15/6/1959, căn cước công dân số
001059032247 cấp ngày 23/7/2021; địa chỉ: Số A ngõ G đường Ỷ,
phường D, thành phố Hà Nội. (Có mặt) Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Tạ Vĩnh K sinh năm 1983, Giám đốc, là người đại diện theo pháp
luật của Ban quản lý dự án đầu tư - hạ tầng phường H (Vắng mặt có đơn)
2. Ông Vũ Mạnh H1, Chủ tịch, là người đại diện theo pháp luật của Công ty
TNHH MTV Đ (Vắng mặt có ủy quyền).
3. Ông Ngô Thanh S sinh năm 1976, Phó Tổng giám đốc, là người đại diện
theo uỷ quyền của Công ty TNHH MTV Đ (Vắng mặt có đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngày 06/3/1983, Xưởng dược quân khu C1 có Văn bản 80/HC gửi Công ty Đ để mượn khu đất bờ sông L nối tiếp với khu tập thể Ngân hàng thị xã H để làm lán cho bộ đội ở.
Ngày 21/3/1983, Công ty Đ có văn bản đồng ý cho mượn khu đất phía Bắc giáp sông L, phía Nam giáp ao cá Bệnh viện tỉnh H, phía Tây giáp Khu tập thể Ngân hàng, phía Đông giáp khu tập thể Nhà máy cơ khí nông nghiệp; hình thức xây dựng tạm thời; không được cho bất kỳ tập thể hoặc cá nhân nào mượn đất xây dựng hoặc làm việc khác trong khu vực; khi không sử dụng nữa, đơn vị phải bàn giao trả lại Công ty Đ. Tháng 12/1987, Xí nghiệp C1 cấp Giấy chứng nhận cấp đất làm nhà ở số 11 cho bà Nguyễn Thị H lô đất số 11 diện tích 60,76m2.
Ngày 21/6/1993, Xí nghiệp T có Văn bản 109/TB-SN gửi Xưởng dược Quân khu 3 với ý kiến: Xưởng dược quân khu C1 được Xí nghiệp T cho mượn tạm thời khu đất từ năm 1983 nhưng quá trình quản lý và sử dụng đơn vị đã làm trái với thỏa thuận trong Văn bản 80/HC ngày 21/3/1983 như sau: Xây dựng nhà cửa kiên cố và bán kiên cố trên thân đê và lòng sông L; Khi xây dựng không có thiết kế mặt bằng được Xí nghiệp thông qua và giấy phép của các ngành chức năng mà tự nhiên xây dựng nhà cửa tràn lan không theo chỉ dẫn của Xí nghiệp T; Tự ý chia đất cho cán bộ chiến sĩ để xây dựng nhà cửa kiên cố trên khu đất tạm mượn. Do đó, yêu cầu Xưởng dược quân khu C1 phải tháo dỡ toàn bộ các công trình cũ và mới nằm trên thân đê và mặt đê phía lòng sông L trước ngày 20/7/1993. Văn bản 80/HC ngày 21/3/1983 và các văn bản tiếp theo bị bãi bỏ, không còn giá trị thực hiện kể từ ngày 21/6/1993.
Ngày 20/10/1993, UBND thị xã H có Quyết định 840/QĐ-UB đình chỉ xây dựng và tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép của 11 hộ gia đình CBCNV thuộc Xưởng dược quân khu 3 tại bờ máng L, không có hộ bà Nguyễn Thu H (Nguyễn Thị H).
Để thực hiện dự án Cải thiện hệ thống tiêu nước khu vực phía T thành phố Hà Nội (Trạm bơm tiêu Y), UBND quận H (nay là phường H) đã ban hành Quyết định 7472/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 về việc thu hồi 84,1m2 đất của hộ bà Nguyễn Thu H và Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết, theo đó: Hộ gia đình bà Nguyễn Thu H có 0 nhân khẩu sinh sống tại địa chỉ nơi thu hồi đất mà đang cho thuê; toàn bộ diện tích 84,1m2 đất không được bồi thường theo Khoản 2 Điều 82 Luật đất đai 2013; cụ thể: 60,76m2 là đất hành lang bảo vệ công trình thủy lợi kênh La Khê do Công ty Đ cho C1 3 mượn đất làm lán cho bộ đội ở nhưng X cấp cho bà Nguyễn Thu H làm nhà ở năm 1987; 1,54m2 lấn chiếm từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004; 10,4m2 lấn chiếm từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014; 11,4m2 lấn chiếm sau ngày 01/7/2014; Công trình xây dựng trên đất lấn chiếm trước ngày 15/10/1993 được hỗ trợ 80% đơn giá, công trình xây dựng trên đất lấn chiếm từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 được hỗ trợ 50% đơn giá; công trình xây dựng trên đất lấn chiếm sau ngày 01/7/2014 không được hỗ trợ theo Khoản 2 Điều 14 Quyết định 10/2017; thưởng tiến độ. Tổng số tiền được bồi thường, hỗ trợ là 201.384.489đ.
Không đồng ý với quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, bà Nguyễn Thu H khiếu nại. Ngày 23/8/2024, Chủ tịch UBND quận H có Quyết định 2858/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần đầu đã giữ nguyên Quyết định 7472/QĐ-UBND và Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023.
Ngày 19/8/2024, bà Nguyễn Thu H có Đơn khởi kiện yêu cầu: Hủy Quyết định 7472/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về việc thu hồi đất; Hủy Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết; Buộc chấm dứt hành vi hành chính có liên quan và bồi thường thiệt hại, xin lỗi công khai.
Ngày 06/12/2024, Sở T1 có Văn bản 9903/STNMT-QHKHSDĐ giải quyết vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng thực hiện dự án Trạm bơm tiêu Yên Nghĩa và được UBND thành phố H chấp thuận tại Văn bản 297/UBND-TNMT ngày 25/01/2025, cụ thể: Căn cứ Khoản 2 Điều 108 Luật Đất đai năm 2024, để tháo gỡ vướng mắc trong việc áp dụng chính sách khi thực hiện công tác giải phóng mặt bằng dự án, trên cơ sở ý kiến của UBND quận H tại Văn bản 475/BC-UBND ngày 14/8/2024, UBND Thành phố cho phép bổ sung chính sách đối với các trường hợp người đang sử dụng đất có nguồn gốc là đất các cơ quan, đơn vị tự ý phân phối, bố trí, đất lấn, chiếm (đều có nguồn gốc là đất hành lang kênh) đã xây dựng nhà để ở hoặc kinh doanh ổn định thì được hỗ trợ bằng 30% (đối với trường hợp chuyển đổi trước ngày 15/10/1993) và 20% (đối với trường hợp chuyển đổi từ sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004) đơn giá đất ở hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cùng vị trí theo đơn giá tại Quyết định 30/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND Thành phố cho diện tích đất thực tế có xây dựng công trình bị thu hồi nhưng không quá 90m2/chủ sử dụng đất theo Văn bản 1686/UBND-TNMT ngày 05/6/2023 của UBND Thành phố.
UBND quận H nay là Chủ tịch UBND phường H giữ nguyên quan điểm, ý kiến như đã thể hiện tại Quyết định 7472/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 về việc thu hồi đất, Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết.
Ban quản lý dự án đầu tư - hạ tầng phường H, Công ty TNHH MTV Đ giao nộp tài liệu, chứng cứ nhưng không có quan điểm, ý kiến.
Tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thu H thay đổi yêu cầu là hủy một phần Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết; buộc UBND phường H phê duyệt phương án bồi thường về đất ở, bồi thường công trình trên đất với tỷ lệ 100% đơn giá, hỗ trợ tái định cư cho gia đình bà Nguyễn Thu H; rút các yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định 7472/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về việc thu hồi đất; buộc chấm dứt hành vi hành chính có liên quan và bồi thường thiệt hại, xin lỗi công khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu H; hủy 01 phần Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; buộc UBND phường H phê duyệt điều chỉnh, bổ sung phương án hỗ trợ về đất theo Văn bản 297/UBND-TNMT ngày 25/01/2025 của UBND thành phố H. Đình chỉ giải quyết các yêu cầu khởi kiện mà bà Nguyễn Thu H đã rút. UBND phường H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn khởi kiện ngày 19/8/2024 của bà Nguyễn Thu H là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[1.2] Chủ tịch và UBND quận H, Ban quản lý dự án quận H, UBND phường Y (sau là phường Q) kết thúc hoạt động kể từ ngày 01/7/2025 và phường Q thành phường mới là phường H, thành phố Hà Nội theo quy định của Khoản 43 Điều 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Khoản 3 Điều 51 Luật tổ chức chính quyền địa phương ban hành ngày 16/6/2025.
Chủ tịch và UBND phường H, thành phố Hà Nội kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính với tư cách là Người bị kiện, thực hiện thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai của Chủ tịch và UBND quận H; Ban quản lý dự án đầu tư - hạ tầng phường H kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính của Ban quản lý dự án quận H với tư cách là Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 59 Luật tố tụng hành chính 2015; Điều 8 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ, Quyết định 3536/QĐ-UBND ngày 30/6/2025 của UBND thành phố H.
[2] Quyết định 7472/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về việc thu hồi 84,1m2 đất do hộ gia đình bà Nguyễn Thu H tại địa chỉ số A tổ dân phố G tập thể dược Quân khu C, phường Q để thực hiện dự án Cải thiện hệ thống tiêu nước khu vực phía T thành phố Hà Nội (Trạm bơm tiêu Y) là đúng quy định của pháp luật và người khởi kiện cũng đã rút yêu cầu khởi kiện đối với quyết định này nên Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện đối với quyết định này.
[3] Xét Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết:
[3.1] Theo quy định tại Khoản đ Điều 18 Nghị định 141-CP ngày 26/9/1963 của Hội đồng Chính phủ về việc ban hành điều lệ quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy nông, để bảo vệ công trình thủy nông cấm xây dựng nhà cửa, kho tàng, lấy đất, đào ao, đào giếng, trồng cây có rễ dài trong phạm vi 30m cách chân các kênh nổi và 10m cách chân các kênh chìm. Việc trồng trọt các loại cây khác thích hợp với việc bảo vệ kênh mương, trong phạm vi an toàn nói trên phải được Ban quản trị nông giang cho phép.
Các văn bản pháp luật khác như Nghị định 173-CP ngày 21/11/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ bảo vệ đê điều, Thông tư 31-TL ngày 08/10/1963 và Thông tư 28–TL-ĐĐ ngày 29/9/1964 của Bộ T2, Pháp lệnh đê điều 1989, Nghị định 429-HĐBT ngày 15/12/1990 của Hội đồng bộ trưởng đều không có quy định về việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ mà chỉ có quy định Ủy ban hành chính cấp tỉnh nghiên cứu ban hành, công bố thể lệ thực hiện điều lệ bảo vệ đê điều và đặt những bản niêm yết nội quy bảo vệ các công trình. Nên tại Văn bản 591-TB/TL ngày 10/5/1994, Sở T3 (nay là Sở T1) đã thông báo tạm thời hành lang bảo vệ hai bờ sông N, sông L đoạn qua thị xã H, những công trình thuộc hành lang bảo vệ đã có trước ngày thông báo thì phải tháo dỡ và di chuyển đi nơi khác trả lại mặt bằng cho hành lang bảo vệ công trình.
Khi Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi năm 1994 được ban hành, tại Điều 10 Nghị định 98-CP ngày 27/12/1995 của Chính phủ mới có quy định việc cắm mốc chỉ giới nên Quyết định 225-QĐ/UB ngày 19/5/1995 của UBND tỉnh H (nay là thành phố Hà Nội) mới quy định tổ chức cắm mốc giới và công bố công khai chỉ giới hành lang bảo vệ bờ Sông N và bờ kênh L.
Như vậy từ trước ngày 19/5/1995 (ngày UBND tỉnh H ban hành Quyết định 225-QĐ/UB), hành lang bảo vệ các công trình thủy lợi trong đó có bờ kênh L đã được công bố từ năm 1963 nhưng đến Quyết định 225-QĐ/UB ngày 19/5/1995 của UBND tỉnh H mới cắm mốc giới chứ không phải đến khi có Quyết định 225-QĐ/UB ngày 19/5/1995 thì mới có quy định về hành lang bảo vệ công trình thủy lợi.
[3.2] Khu đất bờ sông L nối tiếp với khu tập thể Ngân hàng thị xã H mà Xưởng dược quân khu C1 mượn của Công ty Đ tại Văn bản 80/HC ngày 06/3/1983 là để làm lán cho bộ đội ở, được Công ty Đ đồng ý với vị trí phải cách mặt đê 4m tính từ mép sông L, với điều kiện xây dựng tạm thời và trước khi xây dựng phải thông qua và bố trí mặt bằng với Công ty Đ.
Tuy nhiên, việc tháng 12/1987, X dược Quân khu 3 cấp Giấy chứng nhận cấp đất làm nhà ở số 14 cho bà Nguyễn Thu H được sử dụng 60,76m2 lô đất số 11 trong khu tập thể để xây dựng nhà ở mà không kèm điều kiện là chỉ được làm lán tạm, không được làm nhà, không được xây dựng những công trình có tường kiên cố và phải trả lại đất cho Công ty Đ khi có yêu cầu, là vi phạm thỏa thuận mượn đất với Công ty Đ tại Văn bản 80/HC ngày 06/3/1983 và vi phạm pháp luật về bảo vệ đê điều.
Như vậy xác định, diện tích 60,76m2 đất bà Nguyễn Thu H (Nguyễn Thị H) được Xưởng dược Quân khu 3 cấp tại Giấy chứng nhận cấp đất làm nhà ở số 11 tháng 12/1987 là đất hành lang bảo vệ kênh L thuộc quyền quản lý, sử dụng của Xí nghiệp T nay là Công ty TNHH MTV Đ đã cho Xưởng dược Quân khu C1 mượn tạm tại Văn bản 80/HC ngày 06/3/1983 và đã được Văn bản 1526/CTSN-QLN.CT ngày 04/9/2014 của Công ty TNHH MTV Đ xác định toàn bộ tập thể Xưởng dược nằm trong mốc giới bảo vệ kênh L theo Quyết định 225/QĐ-UB ngày 19/5/1995 của UBND tỉnh H.
[3.3] Từ năm 1988, bà Nguyễn Thu H (Nguyễn Thị H) đã làm nhà và ở trên diện tích 60,76m2 đất được cấp thể hiện tại Danh sách các gia đình quân nhân có xác nhận tháng 5/1993 của X dược, xác nhận ngày 30/6/1993 của Quân khu C1.
Tại Văn bản 109/TB-SN ngày 21/6/1993, Xí nghiệp T đã chấm dứt hiệu lực của Văn bản 80/HC ngày 06/3/1983, yêu cầu Xưởng dược Quân khu C1 phải tự tháo dỡ toàn bộ các công trình nhà cửa đã xây dựng cũ, mới nằm trên thân đê và mặt đê phía lòng sông La Khê xong trước ngày 20/7/1993.
Tuy nhiên, Xưởng dược Quân khu C1 và các hộ dân không chấp hành mà còn tiếp tục hoàn thiện 05 ngôi nhà mới xây dựng trái phép tháng 5/1993 nên Xí nghiệp T có Văn bản 120/CV-SN ngày 20/7/1993 đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý. Tại Quyết định 840/QĐ-UB ngày 20/10/1993, UBND thị xã H đã đình chỉ việc san lấp, xây dựng và yêu cầu tự tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép của 11 hộ gia đình Xưởng dược Quân khu C1, nhưng trong danh sách kèm theo không có tên bà Nguyễn Thu H.
Tại Thông báo 192 TB/SN ngày 20/6/1995 của Xí nghiệp T về nội dung hội nghị có sự tham gia của đại diện Xưởng dược và đại diện Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H đã thống nhất: Khu tập thể X trước đây nay là Đội sản xuất thuộc Quân khu C1 nằm tại bờ tả kênh L thuộc phường Q (có 01 số hộ đã làm nhà, 1 số hộ chưa làm nhà nhưng không thu thập được danh sách) là hoàn toàn trái với quy định của cơ quan chuyên môn (Xí nghiệp T), vi phạm Điều 28 Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và Quyết định 225-QĐ/UB ngày 19/5/1995 của UBND tỉnh H nên không thể tồn tại các nhà, hộ gia đình ở đây, đơn vị phải cho di chuyển ra khỏi hành lang bảo vệ sông L theo quy định của Quyết định 225.
Như vậy, Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 xác định 60,76m2 có nguồn gốc đất hành lang bảo vệ công trình thủy lợi kênh La Khê do Công ty Đ cho Xưởng dược Quân khu C1 mượn làm lán, sau đó X dược cấp cho bà Nguyễn Thu H làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 nên không được bồi thường về đất là đúng quy định tại Khoản 2 Điều 82 Luật đất đai 2013; Khoản 1 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
[3.4] Việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận H xác nhận tại Giấy xác nhận đăng ký đất đai 109/GXN-VPĐKĐĐ-Quang Trung ngày 19/6/2017 về thời điểm lấn chiếm trước và sau năm 1998 là không phù hợp quy định của Luật đất đai năm 2013 về trước hay sau các thời điểm là ngày 15/10/1993 (ngày Luật đất đai 1993 có hiệu lực), ngày 01/7/2004 (ngày Luật đất đai 2003 có hiệu lực) và ngày 01/7/2014 (ngày Luật đất đai 2013 có hiệu lực).
Căn cứ bản đồ và sổ mục kê năm 1998 hoàn thiện năm 2001, các biên lai nộp thuế nhà đất của bà Nguyễn Thu H, Biên bản lấy ý kiến cộng đồng dân cư ngày 03/11/2020, xác định Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 phê duyệt 60,76m2 đất lấn chiếm trước 15/10/1993; 1,54m2 lấn chiếm từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004; 10,4m2 lấn chiếm từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014; 11,4m2 lấn chiếm sau ngày 01/7/2014 là đúng.
[3.5] Xưởng dược không có thẩm quyền cấp 60,76m2 đất mượn của Xí nghiệp T cho bà Nguyễn Thu H để xây dựng nhà ở. Mặc dù bà Nguyễn Thu H sử dụng đất làm nhà ở được Xưởng dược cấp trước ngày 15/10/1993 nhưng vi phạm hành lang bảo vệ sông/kênh/máng L, vi phạm pháp luật về đất đai, không có biên bản xử lý, ngăn chặn của cơ quan có thẩm quyền đối với gia đình/cá nhân bà Nguyễn Thu H nhưng có văn bản ngăn chặn đối với X dược thể hiện tại Biên lai nhận tiền số 12351 ngày 13/7/1988 do đại diện Xưởng dược nộp tiền phạt do xây dựng trái phép bị xử lý theo Quyết định số 74 ngày 08/7/1988; tại các văn bản của Xí nghiệp T số 109/TB-SN ngày 21/6/1993, số 120/CV-SN ngày 20/7/1993, số 99 CV/SN ngày 11/4/1995, Thông báo số 192 TB/SN ngày 20/6/1995; Quyết định 840/QĐ-UB ngày 20/10/1993 của UBND thị xã H về việc đình chỉ xây dựng và tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép của các hộ gia đình CBCNV thuộc Xưởng dược Quân khu 3 tại bờ máng La Khê; Văn bản 748 VP/QP ngày 28/4/1995 của Bộ Q1; Văn bản số 231 CV/CT ngày 18/8/1999 và số 128 CV/CT ngày 24/5/2000 của Công ty Đ nên không được bồi thường về đất theo quy định của Khoản 1 Điều 74, Khoản 1 Điều 75, Khoản 2 Điều 82, Điều 100, Điều 101 Luật đất đai 2013.
Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 phê duyệt phương án không bồi thường về đất cho bà Nguyễn Thu H đối với toàn bộ diện tích 84,1m2 lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình thủy lợi kênh L là đúng.
[3.6] Theo quy định tại Khoản 7 Điều 7 Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010, việc nộp thuế không phải là căn cứ để công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người nộp thuế đối với diện tích đất lấn, chiếm. Do đó, các biên lai nộp thuế nhà đất từ năm 1995 của bà Nguyễn Thu H tại tập thể dược Quân khu 3 không phải căn cứ để công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của bà Nguyễn Thu H.
[3.7] Theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013, Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, Điều 14 Quyết định 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H, đối với công trình xây dựng không hợp pháp vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, công bố công khai và cắm mốc giới nhưng được UBND cấp xã xác nhận không có văn bản xử lý, ngăn chặn của cấp có thẩm quyền thì được hỗ trợ bằng 80% mức bồi thường theo quy định tại đối với công trình xây dựng trước 15/10/1993; hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường theo quy định đối với công trình xây dựng từ 15/10/1993 đến trước 01/7/2004; hỗ trợ bằng 10% mức bồi thường theo quy định đối với công trình xây dựng được tạo lập trước ngày 01/7/2014; công trình được tạo lập kể từ ngày 01/7/2014 không được hỗ trợ.
Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 phê duyệt phương án hỗ trợ 80% đơn giá đối với các công trình xây dựng trước ngày 15/10/1993, 50% đơn giá đối với các công trình xây dựng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, không hỗ trợ đối với công trình xây dựng sau ngày 01/7/2014 là đúng quy định của pháp luật.
[3.8] Theo quy định tại Khoản 2 Điều 79 Luật đất đai 2013; Khoản 4 Điều 6, Khoản 5 Điều 7 Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Khoản 1 Điều 27 Quyết định 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở mà phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, chỉ được hỗ trợ tỷ lệ % giá đất, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì được mua căn hộ tái định cư hoặc giao đất tái định cư.
Ông Nguyễn Xuân C – chồng bà H có hộ khẩu thường trú tại Khu tập thể N, huyện T, thành phố Hà Nội. Theo Xác nhận ngày 05/12/2020 của Công an phường Q, bà Nguyễn Thị Thu H có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ thu hồi đất là số A Tập thể dược Quân khu C, phố L, phường Q nhưng không sinh sống tại đây mà cho cháu ở nhờ; hộ gia đình bà H tạm trú tại số A ngõ G đường Ỷ, phường D, quận H.
Hộ gia đình bà Nguyễn Thu H không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, không sinh sống tại địa chỉ thu hồi đất, không phải di chuyển chỗ ở nên mặc dù không có chỗ ở nào khác trong địa bàn phường Q và chưa nhận được văn bản xác nhận về nhà ở, đất ở của ông Nguyễn Xuân C tại UBND thị trấn V, huyện T nhưng Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 vẫn phê duyệt không hỗ trợ tái định cư cho gia đình bà Nguyễn Thu H là đúng.
[3.9] Theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 83 Luật đất đai 2013, Điều 25 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng đối với người có đất thu hồi.
[3.9.1] Khoản 1 Điều 24 Quyết định 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H quy định, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ thêm để ổn định đời sống bằng tiền cho các nhân khẩu thực tế đang ăn ở tại nơi thu hồi đất.
Hộ gia đình bà Nguyễn Thu H không phải di chuyển chỗ ở nên Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 không phê duyệt phương án hỗ trợ ổn định đời sống cho hộ gia đình bà Nguyễn Thu H là đúng.
[3.9.2] Gia đình bà Nguyễn Thu H không được tái định cư nên Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 không phê duyệt hỗ trợ thuê nhà, địa điểm tạm cư là đúng quy định tại Khoản 2 Điều 24 Quyết định 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H.
[3.9.3] Theo quy định tại Điều 91 Luật đất đai 2013, Khoản 5 Điều 10 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, Khoản 1 Điều 15 Quyết định 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở thì được bồi thường chi phí di chuyển là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)/chủ sử dụng nhà ở, đất ở đối với trường hợp di chuyển chỗ ở trong phạm vi Thành phố.
Hộ gia đình bà Nguyễn Thu H không phải di chuyển chỗ ở nên Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 không phê duyệt phương án bồi thường chi phí di chuyển tài sản cho hộ bà Nguyễn Thu H là đúng.
[3.9.4] Theo Khoản 5 Điều 24 Quyết định 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H quy định, trong các trường hợp cụ thể, căn cứ tình hình thực tế, UBND Thành phố sẽ xem xét, quyết định biện pháp hỗ trợ khác để đảm bảo có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng đối với người có đất hồi đất.
Sau khi UBND quận H ban hành Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với hộ bà Nguyễn Thu H thì UBND thành phố H mới có Văn bản 297/UBND-TNMT ngày 25/01/2025 chấp thuận Văn bản 9903/STNMT-QHKHSDĐ ngày 06/12/2024 của Sở T1 cho phép bổ sung hỗ trợ đối với các trường hợp đang sử dụng đất có nguồn gốc là đất các cơ quan, đơn vụ tự ý phân phố, bố trí, đất lấn, chiếm đều có nguồn gốc là đất hành lang kênh bằng 30% (đối với trường hợp chuyển đổi trước ngày 15/10/1993) và bằng 20% (đối với trường hợp chuyển đổi sau ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004) đơn giá đất ở hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cùng vị trí theo đơn giá tại Quyết định 30/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố cho diện tích đất thực tế có xây dựng công trình bị thu hồi nhưng không quá 90m2/chủ sử dụng đất theo mục 3 Văn bản 1686/UBND-TNMT ngày 05/6/2023 của UBND thành phố.
Như vậy, Chủ tịch UBND phường H cần phê duyệt bổ sung hỗ trợ về đất cho hộ bà Nguyễn Thu H theo quy định tại Văn bản 297/UBND-TNMT ngày 25/01/2025 của UBND thành phố H và Văn bản 9903/STNMT-QHKHSDĐ ngày 06/12/2024 của Sở T1.
[4] Quyết định 7472/QĐ-UBND về việc thu hồi đất, Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 về việc phê duyệt bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của UBND quận H được ban hành đúng quy định của pháp luật. Đến ngày 25/01/2025, UBND thành phố H mới có Văn bản 297/UBND-TNMT chấp thuận mức hỗ trợ về đất cho các trường hợp lấn chiếm hành lang bảo vệ kênh L nên Quyết định 2858/QĐ-UBND ngày 03/6/2024 của Chủ tịch UBND quận H về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đã giữ nguyên Quyết định 7472/QĐ-UBND và Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 là đúng.
[5] Bà Nguyễn Thu H rút các yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định 7472/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về việc thu hồi đất; yêu cầu chấm dứt hành vi hành chính có liên quan và bồi thường thiệt hại, xin lỗi công khai nên Tòa án đình chỉ giải quyết các yêu cầu khởi kiện này của bà Nguyễn Thu H.
[6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, có đủ căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu H; hủy phần hỗ trợ về đất tại Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H; buộc Chủ tịch UBND phường H phê duyệt điều chỉnh, bổ sung phương án hỗ trợ về đất cho gia đình bà Nguyễn Thu H. UBND phường H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết số 106/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật đất đai năm 2013; Nghị định 141-CP ngày 26/9/1963 của Hội đồng Chính phủ; Nghị định 47/2014/NĐ-CP15/5/2014 của Chính phủ; Quyết định 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố H.
Xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu H.
[1.1] Hủy phần hỗ trợ về đất tại Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Ủy ban nhân dân quận H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ gia đình bà Nguyễn Thu H tại địa chỉ số A tổ dân phố G Khu tập thể D, phường Q, quận H để thực hiện dự án: Cải thiện hệ thống tiêu nước khu vực phía T thành phố Hà Nội (Trạm bơm tiêu Y), phường Q, quận H.
[1.2] Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hà Nội ban hành quyết định phê duyệt phương án điều chỉnh, bổ sung hỗ trợ về đất cho hộ gia đình bà Nguyễn Thu H để thực hiện dự án Cải thiện hệ thống tiêu nước khu vực phía Tây thành phố Hà Nội (Trạm bơm tiêu Y) theo Văn bản 297/UBND-TNMT ngày 25/01/2025 của UBND thành phố H, Văn bản 9903/STNMT-QHKHSDĐ ngày 06/12/2024 của Sở T1 và theo quy định của pháp luật.
[2] Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu H về việc yêu cầu hủy phần bồi thường về đất, bồi thường, hỗ trợ 100% đơn giá đối với công trình xây dựng trên đất và phần tái định cư tại Quyết định 7486/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Ủy ban nhân dân quận H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết.
[3] Đình chỉ giải quyết các yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu H đối với Quyết định 7472/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của UBND quận H về việc thu hồi đất; yêu cầu chấm dứt hành vi hành chính có liên quan và bồi thường thiệt hại, xin lỗi công khai.
[4] Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hà Nội phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
[5] Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Viện kiểm sát NDTP Hà Nội THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Các đương sự - Lưu hồ sơ - Lưu Tòa án Phạm Thị Hoàng Phúc |