vanban.org

Bản án 346/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Trần Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bùi Trần Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 25/8/2024. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q phải bồi thường thiệt hại cho bị hại là anh Đàm A số tiền 10.000.000 VNĐ (mười triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trần Quang phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Trần Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 346/2024/HS-ST
Ngày: 18/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Thắng.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thiệu.

Bà Nguyễn Thị Huyền Nga.

-

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Vân Kiều - Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. -

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đỗ Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2024; Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 363/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét sử số: 374/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Trần Q, sinh năm: 1964; Hộ khẩu thường trú: số A, phường N, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: không cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn C (đã chết) và bà: Trần Thị M (đã chết).

Tiền án, tiền sự: Chưa

Nhân thân: -

Ngày 18/11/1983, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 18 tháng tù về

tội Trộm cắp tài sản riêng của công dân (đã xóa án tích); -

Ngày 28/3/2007, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 18 tháng tù về

tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); -

Ngày 29/7/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm xử

phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích); -

Ngày 24/8/2020, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 30 tháng tù về tội

Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích). -

Ngày 02/7/1989, Công an quận Hai Bà Trưng xử phạt vi phạm hành chính về

hành vi chống người thi hành công vụ (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử

lý hành chính); -

Ngày 15/10/1993, Công an quận Hoàn Kiến xử phạt vi phạm hành chính về

hành vi Tàng trữ vũ khí trái phép (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý

hành chính); -

Ngày 03/01/2013, Công an quận Hoàng Mai xử phạt vi phạm hành chính về

hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử

lý hành chính).

Bị can đầu thú ngày 25/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại anh Đàm A (sinh năm: 1999, địa chỉ: N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) – vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Ngô Bá D sinh năm: 1973, địa chỉ: xã D, huyện D, thành phố Hà Nội) – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20h00’ ngày 04/8/2024, Bùi Trần Q đang đứng chờ khách đi xe ôm tại khu vực đối diện số 64 Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội thì thấy anh Đàm A (Sinh năm: 1999, HKTT: N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) điều khiển xe ô tô khách loại 29 chỗ mang biển kiểm soát: 29B-039.23 đến đỗ tại trước số 64 Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội để trả khách. Khi anh A đi ra phía sau xe để lấy đồ trả cho khách, thấy vậy, Bùi Trần Q đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh A để trên xe. Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu nâu vàng, mang biển kiểm soát: 98E1-131.11 đi vòng phía trước đầu xe ô tô khách rồi dừng xe đi bộ ra phía cửa lái bên trái đầu xe ô tô, nhìn ngó vào khoang lái và không thấy ai bên trong. Q mở cửa xe ô tô, lách người vào bên trong khoang cabin, thò tay phải vào lấy 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh Grey, số Imei: 356942217695819. Sau khi lấy được điện thoại, Q đóng cửa xe ô tô rồi đi về phía xe máy của Q và điều khiển xe máy về hướng phố Trần Nhân Tông - Lê Duẩn - Giải Phóng. Q đến cửa hàng mua bán điện thoại di động số 8 ngõ 897 Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội do anh Ngô Bá D (Sinh năm: 1973, HKTT: xã D, huyện D, thành phố Hà Nội) làm chủ cửa hàng và bán chiếc điện thoại trên cho anh D với giá 4.600.000 VNĐ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) và nói với anh D đây là điện thoại của Q, do quên mật khẩu nên Q muốn bán.

Anh Đàm A đã đến cơ quan công an trình báo về việc bị mất trộm 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh Grey, số Imei: 356942217695819 và được cơ quan Công an tiếp nhận thụ lý. Ngày 25/8/2024, Bùi Trần Q đến Công an Phường Nguyễn Du đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội xảy ra ngày 04/8/2024 tại khu vực trước số 64 Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng tạm giữ của Bùi Trần Q: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu nâu vàng mang BKS: 98E-131.11, số máy: HC12E3380898, số khung: RLHHC1209BY581726, đã qua sử dụng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Bùi Trần Q xác định địa điểm trộm cắp chiếc điện thoại. Kết quả, Q xác định được địa điểm trộm cắp chiếc điện thoại tại khu vực trước số 64 Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Tại bản kết luận định giá số: 101/KL-HĐ ĐGTS ngày 27/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận Hai Bà Trưng, kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh Grey, số Imei: 356942217695819, 256Gb, đã qua sử dụng có giá trị 10.000.000 đồng.”

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Trần Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên, lời khai của Bùi Trần Q phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, mục đích trộm cắp tài sản của Q là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu nâu vàng mang BKS: 98E1-131.11, số máy: HC12E3380898, số khung: RLHHC1209BY581726, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của chiếc xe là anh Nguyễn Văn M (sinh năm: 1986, HKTT: thôn V, xã Ư, huyện G, tỉnh Bắc Giang). Anh M trình bày anh mua chiếc xe trên vào khoảng tháng 01/2013 tại Công ty TNHH Honda Ngân Phương (địa chỉ: số 114 tổ dân phố Trường Chinh, thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang); khoảng tháng 7/2016, tại thôn V, xã Ư, huyện G, tỉnh Bắc Giang, anh M bị trộm cắp chiếc xe máy trên và đã có đơn trình báo với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang không tiếp nhận vụ việc nào về việc mất trộm xe của anh Nguyễn Văn M từ năm 2016 đến nay. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định tách tài liệu vụ án liên quan đến chiếc xe máy trên để chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xác minh theo thẩm quyền.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh Grey, đã qua sử dụng hiện chưa thu hồi được: Quá trình điều tra xác định, anh Ngô Bá D không biết chiếc điện thoại là tài sản do Q trộm cắp được, đồng thời anh D đã bán lại chiếc điện thoại trên cho một người đàn ông không quen biết với giá 5.100.000 VNĐ (năm triệu một trăm nghìn đồng). Anh D khai không biết nhân thân lai lịch của người mua chiếc điện thoại, đây là lần đầu anh D gặp và không nhớ đặc điểm gì của người mua chiếc điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và không thu hồi lại được tài sản bị trộm cắp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đàm A yêu cầu bị cáo Bùi Trần Q bồi thường 10.000.000 VNĐ (mười triệu đồng) đối với chiếc điện thoại trên.

Tại bản cáo trạng số: 327/CT-VKS-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Bùi Trần Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Bùi Trần Q từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q phải bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 10.000.000 VNĐ (mười triệu đồng).

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng, người liên quan, kết luận giám định và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo về hành vi phạm tội trộm cắp tài sản là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhập những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án.

Những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 04/8/2024, tại khu vực trước số 64 Trần Nhân Tông, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Bùi Trần Q có hành vi trộm cắp 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh Grey, đã qua sử dụng, trị giá 10.000.000 VNĐ (mười triệu đồng) của anh Đàm A, tài sản không thu hồi được.

Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Thiệt hại về vật chất do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra không lớn nhưng gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã nhiều lần được Nhà nước giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, từng nhiều lần vi phạm pháp luật; mặc dù nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật cao độ. Do đó, cần xử phạt nghiêm minh đối với hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối lỗi, nên để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đầu thú tại cơ quan Công an giúp vụ án được giải quyết nhanh chóng nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên xét không áp dụng phạt tiền làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu nâu vàng mang BKS: 98E1-131.11, số máy: HC12E3380898, số khung: RLHHC1209BY581726, đã qua sử dụng đã được cơ quan điều tra tách hồ sơ, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xác minh theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Do tài sản bị trộm cắp là 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh Grey, số Imei: 356942217695819 không thu hồi được để trả cho bị hại, xét thấy yêu cầu bồi thường của bị hại là hợp pháp nên Hội đồng xét xử chấp thuận yêu cầu của bị hại và đề nghị của Viện kiểm sát, buộc bị cáo Q phải bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 10.000.000 VNĐ (mười triệu đồng).

Bị cáo Bùi Trần Q phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm, án phí dân sự và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Trần Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử phạt: Bùi Trần Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 25/8/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q phải bồi thường thiệt hại cho bị hại là anh Đàm A số tiền 10.000.000 VNĐ (mười triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án phải thi hành án còn phải chịu lãi suất theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo Bùi Trần Q phải nộp 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, 500.000 VNĐ (Năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ