- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Cẩm D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 346/2024/HNGĐ-ST Ngày 20-8-2024 V/v: “Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Việt Thắng
2. Ông Nguyễn Trường Hận
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 284/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Cẩm D, sinh năm 1998, địa chỉ cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Anh Bùi Quốc Đ, sinh năm 1987, địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn: Chị Võ Cẩm D trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đ xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2022, nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong cuộc sống do bất đồng ý kiến, phía anh Đ có hành vi bạo hành, dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung Võ Ngọc N, sinh ngày 17/6/2023 (giới tính: Nữ). Hiện cháu do chị trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu cho đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Chị yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N đến tuổi trưởng thành, mức tiền cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn: Anh Bùi Quốc Đ trình bày:
Về hôn nhân: Thống nhất với ý kiến trình bày của chị D. Nay, chị D xin ly hôn thì anh thống nhất ly hôn với chị D.
Về con chung: Thống nhất với ý kiến trình bày của chị D. Tuy nhiên khi ly hôn, anh Đ yêu cầu chị D phải giao cháu N cho anh nuôi dưỡng, không có yêu cầu chị D phải cấp dưỡng.
Về tài sản, nợ: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, còn bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của đương sự: Đối với anh Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần xét xử vắng mặt đối với anh Đ, là phù hợp.
Về quan hệ pháp luật: Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, bị đơn là anh Bùi Quốc Đ có nơi cư trú tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
- Về hôn nhân:
Căn cứ xác nhận ngày 10/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã K và xác nhận ngày 10/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã P, xác định chị D và anh Đ không có đăng ký kết hôn. Đồng thời, tại phiên toà chị D xác định giữa chị và anh Đ chung sống với nhau đến hôm nay không có đăng ký kết hôn theo quy định. Như vậy, có cơ sở để xác định chị D và anh Đ chung sống, nhưng đến nay vẫn không có đăng ký kết hôn, nên về mặt hôn nhân đã vi phạm về hình thức. Nay, cả chị D và anh Đ đều có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân, do mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về hình thức. Căn cứ các điều 9, 14, 53 của Luật HN và GĐ năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Duy, không công nhận giữa chị D và anh Đ là vợ chồng.
- Về con chung: Chị D và anh Đ cùng xác định, giữa chị D và anh Đ có chung là 01 người con tên Võ Ngọc N, sinh ngày 17/6/2023 (giới tính: Nữ). Đồng thời, cháu N cũng được Ủy ban nhân dân xã P cấp Giấy khai sinh ngày 22/7/2024. Khi ly hôn, cả chị D và anh Đ đều có yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu N, đây là trách nhiệm làm cha, mẹ của chị D và anh Đ đối với cháu N. Tuy nhiên, hiện nay cháu N do chị D trực tiếp nuôi dưỡng, còn anh Đ yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu N, chị D không đồng ý. Mặt khác, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 20/8/2024 cháu N trên 12 tháng, cháu N là nữ và đang được chị D trực tiếp nuôi dưỡng phát triển tốt về mọi mặt. Như vậy, căn cứ Điều 81 của Luật HN và GĐ năm 2014, khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét vì lợi ích của con chung, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và cháu N ở độ tuổi này rất cần chị D trực tiếp nuôi dạy để phát triển nên người, cần giao cháu N cho chị D được quyền nuôi dưỡng, cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng: Tại phiên toà, chị D có yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N đến tuổi trưởng thành, mức tiền cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Xét, theo quy định tại Điều 110 của Luật HN và GĐ năm 2014 quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, ..., trong trường hợp không sống chung với con”. Do đó, việc chị D yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu N là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ: Các điều 116, 117 của Luật HN và GĐ năm 2014, Khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, quy định: “… Mức cấp dưỡng do Toà án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Đối với anh Đ hiện đang cư trú tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, thì nơi cư trú của anh Đ là thuộc vùng III, quy định mức lương tối thiểu vùng III là 3.860.000 đồng/tháng. Như vậy, số tiền mà anh Đ phải cấp dưỡng nuôi cháu N được xác định là 2.000.000 đồng/tháng. Về thời điểm cấp dưỡng, theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, quy định: “Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, …, … phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, …”. Nhưng, tại phiên toà chị D chỉ yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi cháu N kể từ ngày xét xử sơ thẩm. Do đó, cần xác định thời điểm cấp dưỡng của anh Đ đối với cháu N được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 20/8/2024, cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
- Về tài sản, nợ: Chị D và anh Đ không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, chị D phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, anh Đ phải chịu án phí cấp dưỡng số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các điều 271, 273, 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 9, 14, 15, 53, 56, 57, 59, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Cẩm D.
1/ Về hôn nhân: Không công nhận giữa chị Võ Cẩm D và anh Bùi Quốc Đ là vợ chồng.
2/ Về con chung: Giao cháu Võ Ngọc N, sinh ngày 17/6/2023 (giới tính: Nữ) cho chị Võ Cẩm D được quyền trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3/ Về cấp dưỡng: Buộc anh Bùi Quốc Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các cháu Võ Ngọc N, sinh ngày 17/6/2023 (giới tính: Nữ) số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)/tháng, cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 20/8/2024.
Kể từ ngày chị Võ Cẩm D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Bùi Quốc Đ không thi hành xong khoản tiền trên, anh Bùi Quốc Đ còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
4/ Về tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác.
5/ Về án phí:
Buộc chị Võ Cẩm D phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng, đối trừ số tiền 300.000 đồng mà chị D đã dự nộp tại biên lai 4948 ngày 10/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu đối trừ.
Buộc anh Bùi Quốc Đ phải nộp án phí cấp dưỡng số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
6/ Về quyền kháng cáo:
Chị Võ Cẩm D được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với anh Bùi Quốc Đ được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Các đương sự (02b); - VKSND H. Trần Văn Thời (01b); - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời (01b); - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (01b); - Lưu hồ sơ vụ án (01b); - Lưu án văn (01b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thành Quang |