- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Yến T:
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 346/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12/05/2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lưới Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyên 2. Bà Trần Thị Đúng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 05 năm 2023 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1089/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/04/2023, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Yến T, sinh năm: 1999 (có mặt) Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Huỳnh Đ, sinh năm: 1992 (có mặt) Địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16/11/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Bùi Thị Yến T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Huỳnh Đ bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2020, tự tìm hiểu đến với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh P đến tháng 02 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau về cách sinh hoạt, cách nuôi dạy con. Vợ chồng ly thân khoảng 02 năm nay, mạnh ai nấy sống không ai chăm sóc cho ai. Do tình cảm đối với nhau không còn, mâu thuẫn không hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Thiên P, nam, sinh ngày 02/11/2020. Khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ P và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 30/12/2022 và trong quá trình xét xử, bị đơn ông Nguyễn Huỳnh Đ trình bày:
Ông xác nhận thời gian chung sống, việc đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung như lời trình bày của bà T. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, kinh tế gia đình chưa ổn định từ đó vợ chồng mâu thuẫn. Vợ chồng ly thân khoàng 02 năm nay. Ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T vì ông còn T vợ con và muốn vợ chồng đoàn tụ. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý giao con cho bà T nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Bà Bùi Thị Yến T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh Đ. Đây là tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Bị đơn cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Về áp dụng pháp luật: Bà Bùi Thị Yến T nộp đơn yêu cầu ly hôn ngày 16/11/2022 nên áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Bà Bùi Thị Yến T và ông Nguyễn Huỳnh Đ tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2021, đôi bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 03 ngày 06/01/2021. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Yến T và ông Nguyễn Huỳnh Đ là hợp pháp được pháp luật công nhận quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét lời trình bày của bà T, ông Đ nhận thấy hai bên thừa nhận đời sống chung vợ chồng là có mâu thuẫn về chuyện gia đình, tình cảm, tính tình hai bên không còn hòa hợp. Vợ chồng thường hay gây gổ với nhau. Vợ chồng sống ly thân và không ai quan tâm đến ai.
Sự việc mâu thuẫn xảy ra đã lâu nhưng hai bên không hòa giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng được. Hai bên cũng thừa nhận không thể nào nói chuyện thẳng thắn với nhau để tìm giải pháp hiệu quả cho việc duy trì quan hệ hôn nhân tốt đẹp, vì sự khác biệt về suy nghĩ và quan điểm sống. Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ và hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng tại các buổi hòa giải hai bên có thái độ căng thẳng với nhau nên việc hòa giải đoàn tụ là không thành. Do đó, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông Đ là trầm trọng.
Vợ chồng thường gây gổ với nhau và không có giải pháp hiệu quả cho việc hàn gắn tình cảm, bà T và ông Đ sống ly thân, tình yêu không còn, mạnh ai nấy sống, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Do đó, đời sống chung là không thể kéo dài.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh P, vợ chồng T yêu và quý trọng nhau, cùng nhau chăm lo cho con. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ không còn hòa thuận và tôn trọng lẫn nhau, nên mục đích hôn nhân là không đạt được.
Ông Đ yêu cầu đoàn tụ nhưng không đưa ra biện pháp để vợ chồng hàn gắn tình cảm và khi được Tòa án hòa giải thì giữa hai vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, mạnh ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc nhau, cho thấy ông Đ cũng không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thiết tha trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Thiên P, nam, sinh ngày 02/11/2020. Do trẻ P hiện tại được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nên ông Đ đồng ý giao trẻ P cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và ông Đ sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Xét yêu cầu của ông Đ phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 107, 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, phù hợp với ý kiến của bà T nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ P cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi nào phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 12/06/2023.
Ông Nguyễn Huỳnh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông Đ khai nhận không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Từ những lý lẽ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Bùi Thị Yến T.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị Yến T chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Ông Nguyễn Huỳnh Đ chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng Điều 8, 9, 51, 56, 57, 58, 107, 110, 116, 118, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Yến T:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Yến T được ly hôn với ông Nguyễn Huỳnh Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 03 do Ủy ban nhân dân phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/01/2021 không còn giá trị pháp lý.
1.2. Về con chung: giao trẻ Nguyễn Bùi Thiên P, nam, sinh ngày 02/11/2020 cho bà Bùi Thị Yến T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Huỳnh Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Các bên đương sự trực tiếp thực hiện việc giao và nhận tiền cấp dưỡng nuôi con vào ngày 12 dương lịch hàng tháng, thời gian bắt đầu thực hiện từ ngày 12/06/2023 cho đến khi nào phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Kể từ khi bà Bùi Thị Yến T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Huỳnh Đ chậm nộp tiền cấp dưỡng nuôi con thì ông Nguyễn Huỳnh Đ còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ông Nguyễn Huỳnh Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông Đ khai nhận không có. Do đó, Tòa án không đặt ra để giải quyết.
2. Về án phí: Bà Bùi Thị Yến T chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0042081 ngày 28/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Bùi Thị Yến T đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Huỳnh Đ chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Bình Chánh; - Chi cục THADS huyện Bình Chánh; - UBND phường Bình Trị Đông A, Q. Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Lưới |