- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Quang Đức - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 346/2022/HS-PT Ngày 23-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lệ
Các Thẩm phán: 1. Ông Ngô Ngọc Thắng
2. Ông Trương Công Huấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 234/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Ngô Q.Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2022/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Ngô Q.Đ, sinh ngày: 10/8/1978 tại tỉnh T.T.H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M.T, xã Q.L, huyện Q.Đ, tỉnh T.T.H; Nơi tạm trú: Nhà 0, tổ X, ấp Y, xã V.L.A, huyện B.C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Đ.T và bà Lê T.C; có vợ tên Văn T.L, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/12/2021 đến ngày 16/12/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo tại ngoại (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngô Q.Đ được anh Hà V.C thuê tháo dỡ nội thất tại Công ty cổ phần G.T E.L.G (nhà hàng Mr.L), số XX N.H, phường B.N, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình làm việc, Q.Đ thấy còn một số đồ vật có thể tái sử dụng nên tối ngày 06/12/2021, Q.Đ gọi điện thoại cho Cảnh xin đến nhà số XX N.H để thu lượm dây điện, cửa, rèm cửa còn sót lại, anh Cảnh đồng ý. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07/12/2021, Q.Đ điều khiển xe môtô biển số 54Y1-6364 cùng vợ là Văn T.L điều khiển xe môtô biển số 54F3-1560 và nhờ thêm N.Q (không rõ lai lịch) đến nhà số XX N.H, phường B.N, Quận K, phụ Q.Đ gỡ cửa, dây điện, rèm cửa. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, Q.Đ đi lên tầng 3 thấy Văn phòng của Công ty TNHH T.T.X.T.V.H-T.H-T.M.Đ.T VN do chị Hà T.Y làm Tổng giám đốc, đại diện theo pháp luật vẫn đóng và khóa cửa, không người trông coi nên Q.Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và dùng búa, đục phá cửa vào bên trong lấy trộm một số tài sản gồm: 02 loa hiệu JBL, loại Ki08; 01 màn hình hiệu OKARA, mã T10-215; 01 bộ điều chỉnh âm thanh của micro không dây hiệu Shure, mã UR20D; 01 máy vang cơ hiệu Gutin, mã KM-5FX; 01 máy karaoke hiệu OKARA, mã M10i; 01 amply hiệu Denon, mã PMA-520AE; 01 máy cưa thụt hiệu TOTAL, mã TS100806; 01 máy hàn điện tử HK200Z; 01 máy pha cà phê hiệu Delonghi, mã EC685.R; 01 máy mài cầm tay hiệu TOTAL, mã TG1071006; 01 máy cưa đĩa hiệu TOTAL, mã TS92035526. Đến khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, khi Q.Đ đang di dời tài sản trộm cắp thì bị anh Trần V.C (là Giám sát thi công) phát hiện, báo Công an phường B.N, Quận K đến đưa Q.Đ cùng vật chứng về trụ sở Công an phường B.N, Quận K lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận K thụ lý. Theo bản kết luận định giá tài sản số 398/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận K, kết luận số tài sản mà Ngô Q.Đ chiếm đoạt có tổng trị giá là 28.108.000 đồng. Quá trình điều tra, Ngô Q.Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của Q.Đ phù hợp với lời khai bị hại, biên bản đối chất, kết quả thực nghiệm điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận K thu thập được. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2022/HSST ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, điểm s, i, h Khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Ngô Q.Đ phạm tội “trộm cắp tài sản”. Xử phạt Ngô Q.Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án, trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/12/2021 đến ngày 16/12/2021. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng và thời hạn kháng cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Q.Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo sớm có điều kiện hòa nhập xã hội, làm lại cuộc đời. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Q.Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm ghi nhận và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất của vụ án, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhận thấy cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo Ngô Q.Đ các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là phù hợp theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Còn đối với tình tiết mà cấp sơ thẩm ghi nhận “Tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại” để áp dụng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là không chính xác. Tại phiên tòa, bị cáo Q.Đ có cung cấp tài liệu mới của gia đình ông, có ông Ngô Đ.T là người có công với cách mạng được Thủ tướng chính phủ trao tặng Kỷ niệm chương do đó cũng cần được ghi nhận để áp dụng quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cho ông Q.Đ. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng mức án 09 (chín) tháng tù mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho ông Q.Đ là mức án nhẹ và đã có xem xét toàn diện tất cả những tình tiết giảm nhẹ cho ông. Vì vậy, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Q.Đ, giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 29/4/2022, Tòa án nhân dân Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án. Đến ngày 06/5/2022, bị cáo Q.Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có điều kiện hòa nhập xã hội. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Đánh giá hành vi của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm kết hợp cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Vào khoảng 9 giờ 20 phút ngày 07/12/2021, bị cáo Q.Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tài sản gồm: 02 loa hiệu JBL, loại Ki08; 01 màn hình hiệu OKARA, mã T10-215; 01 bộ điều chỉnh âm thanh của micro không dây hiệu Shure, mã UR20D; 01 máy vang cơ hiệu Gutin, mã KM-5FX; 01 máy karaoke hiệu OKARA, mã M10i; 01 amply hiệu Denon, mã PMA-520AE; 01 máy cưa thụt hiệu TOTAL, mã TS100806; 01 máy hàn điện tử HK2007; 01 máy pha cà phê hiệu Delonghi, mã EC685.R; 01 máy mài cầm tay hiệu TOTAL, mã TG1071006; 01 máy cưa đĩa hiệu TOTAL, mã TS92035526 của của Công ty TNHH T.T.X.T.V.H-T.H-T.M.Đ.T VN. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 28.108.000 (hai mươi tám triệu, một trăm lẻ tám nghìn) đồng. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ngô Q.Đ, đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh ở địa phương. [3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: cấp sơ thẩm cũng đã xem xét bị cáo Q.Đ khi quyết định hình phạt có xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại đơn đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Riêng đối với tình tiết mà cấp sơ thẩm ghi nhận “Tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại” để áp dụng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là không chính xác do đó không áp dụng tình tiết này cho bị cáo Q.Đ. [4] Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Q.Đ kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đồng thời tại phiên tòa, bị cáo Q.Đ có cung cấp tài liệu mới của gia đình bị cáo, có ông Ngô Đ.T là người có công với cách mạng được Thủ tướng chính phủ trao tặng Kỷ niệm chương do đó cần được ghi nhận để áp dụng quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự cho ông Q.Đ. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận thấy, bị cáo Q.Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ không có tình tiết tăng nặng, xét mức án mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là có phần nghiêm khắc, cần áp dụng một mức hình phạt đủ nghiêm nhưng cũng mang tính chất khoan hồng đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức án nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q.Đ, sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Ngô Q.Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).
Trường hợp người được hưởng án treo có sự thay đổi nơi cư trú thì sẽ áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Q.Đ)
| Nơi nhận: - TAND tối cao; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận K; (1) - P.PC53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (1) - Thi hành án Quận K; (2) - TAND Quận K; (1) - Công an Quận K; (1) - UBND nơi BC cư trú; (2) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (20) (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Lệ |