vanban.org

Bản án 346/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39 Bộ luật tố tụng dân sự;

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu V Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu V và Nguyễn Ngọc Đ"
  • Tòa quyết gì? 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 346/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 4 - 2021
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Diệp Võ Huyền Trân

2. Ông Nguyễn Văn Hồi

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Cán bộ Tòa án nhân dân

huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1437/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 131/3 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: 188/4A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án,

nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu V trình bày:

Bà và ông Nguyễn Ngọc Đ tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết

hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H năm 2006.

Sau khi cưới vợ chồng về sống tại 131/3 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố

Hồ Chí Minh . Đến tháng 12 năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông Đ ham mê cờ bạc, vay mượn tiền nhiều người, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Bà và ông Đ đã sống ly thân từ tháng 05/2020 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân của bà chỉ còn là hình thức nên bà có nguyện vọng được ly hôn với ông Đ.

- Về con chung: có 02 trẻ Nguyễn Ngọc Phước V, sinh ngày 12/12/2008 và

Nguyễn Ngọc Đăng Q, sinh ngày 11/9/2012. Bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 trẻ Vinh, Quang và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

- Về nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai ngày 25/01/2021, ngày 19/3/2021 bị đơn ông Nguyễn Ngọc

Đ trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Thu V tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký

kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006.

Sau khi cưới, vợ chồng về sống tại 131/3 ấp Tân Thới 2, xã Tân Hiệp ,

huyện Hóc Môn , Thành phố Hồ Chí Minh . Tháng 11/2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là ông Đ rượu chè, cờ bạc và mang nợ. Ông và bà V ly thân từ tháng 11 năm 2020 đến nay. Nay bà V nộp đơn xin ly hôn, ông Đ đồng ý ly hôn.

Về con chung: có 02 trẻ Nguyễn Ngọc Phước V, sinh ngày 12/12/2008 và

Nguyễn Ngọc Đăng Q, sinh ngày 11/9/2012. Ông Đ đồng ý giao bà V trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ V, Q, ông Đ không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Không có.

Do nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến

hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: vì đây là tranh

chấp ly hôn và bị đơn cư ngụ tại huyện Hóc Môn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh theo các qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà V và ông Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân.

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 229/2006 quyển số 01 ngày 01/12/2006 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà V và ông Đ là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, bà V vẫn giữ

nguyên yêu cầu ly hôn với ông Đ, bà V khai sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ ham mê cờ bạc, vay mượn tiền nhiều người, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 05 năm 2020 đến nay, vợ chồng không còn tình cảm.

Trong quá trình giải quyết vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt ông Đ khai

sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là ông Đ rượu chè, cờ bạc và mang nợ, vợ chồng không còn tình cảm. Nay ông Đ đồng ý ly hôn với bà V.

Nhận thấy đời sống chung vợ chồng của bà V và ông Đ đang ở trong tình

trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài và cả hai đều có nguyện vọng được ly hôn. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà V và ông Đ có 02 con

chung tên Nguyễn Ngọc Phước V, sinh ngày 12/12/2008 và Nguyễn Ngọc Đăng Q, sinh ngày 11/9/2012, hiện nay 02 trẻ V, Q đang sống với bà V nên bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 trẻ V, Q, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 25/01/2021, trẻ V và trẻ Q đều có nguyện vọng sống chung với bà V. Ông Đ đồng ý để cho bà V được trực tiếp nuôi 02 trẻ, ông Đ không cấp dưỡng nuôi con; đồng thời, ông Đ đang bị tạm giam nên không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét thấy, yêu cầu này là phù hợp với nguyện vọng của 02 trẻ, phù hợp với tình hình thực tế, do đó có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung: Đương sự khai không yêu cầu giải quyết trong vụ án

này.

Về nợ chung: Đương sự khai không có.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm

về phần thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của

nguyên đơn. Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm

ngàn) đồng nguyên đơn phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu V

được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc Đ.

2. Về con chung: Giao 02 trẻ Nguyễn Ngọc Phước V, sinh ngày

12/12/2008 và Nguyễn Ngọc Đăng Q, sinh ngày 11/9/2012 cho bà Nguyễn Thị Thu V trực tiếp nuôi, tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Ngọc Đ cho đến khi có yêu cầu của bà V.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom,

chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án sẽ giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

4. Nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thu V phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng và được trừ

vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà bà V đã nộp theo biên lai số 0077197 ngày 16 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà V đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo

trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ