vanban.org

Bản án 346/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 01/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn R - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giảm (điều 156 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 156 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 346/2019/HS-PT
Ngày: 01-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Tồn

Ông Nguyễn Tấn Trường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Phượng – Thư ký Tòa án nhân

dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao Đà

Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 337/2019/HSPT ngày 27/9/2019. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2019/HS-ST ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1394/QĐXXPT ngày 21 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Văn R; giới tính: Nam; sinh ngày 21 tháng 9 năm 1993,

tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ 8, khu vực 2, phường H, thành phố H; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; con ông Nguyễn Văn S, con bà Phan Thị L (đã chết); có vợ Nguyễn Thị Mai H; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2017 đến ngày 23/01/2019 được áp

dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

-

guyễn Văn R: Ông Nguyễn T - Luật sư của Văn phòng Luật sư H (H), thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/12/2015, Phòng cảnh sát điều tra án kinh tế, chức vụ, tham

nhũng Công an tỉnh Thừa Thiên Huế (PC46) tiến hành kiểm tra hành chính nhà ở của Nguyễn Văn R tại số 1, đường số 6, khu đô thị mới A, phường A, thành phố H đã lập biên bản thu giữ gồm :

1 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Rolex số lượng 1.900 chiếc

2 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Tissot số lượng 45 chiếc

3 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Longines số lượng 505 chiếc

4 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Edifice Casio số lượng 297 chiếc

5 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Emporio Armani số lượng 290 chiếc

Tổng cộng có 3.037 chiếc đồng hồ đeo tay.

6 - Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ 04 loại tài sản của R gồm: 01

CPU không có nhãn hiệu, 01 bàn phím hiệu VENUS, 01 đầu ghi camera hiệu Vicom và 01 hộp swich.

7 - Các loại giấy tờ, tài liệu bán hàng, quảng cáo trên mạng Internet của

R gồm có 92 tờ.

Ngày 10/10/2016, cơ quan điều tra Công an tỉnh Thừa Thiên Huế ra

Quyết định trưng cầu giám định (số 17) đối với 3.037 chiếc đồng hồ đã thu giữ để xác định là hàng giả hay hàng thật. Tại bản kết luận giám định số 4556/ C54-P6 ngày 22/11/2016 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 3.037 chiếc đồng hồ đeo tay gửi giám định là giả nhãn hiệu.

Ngày 07/02/2017, cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định (số 01) trưng

cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Thừa Thiên Huế để xác định giá đối với 3.037 chiếc đồng hồ được bán ở thị trường Việt nam tại thời điểm tháng 12/2015, gồm có:

Tại bản Kết luận số 366/KL-HĐ ĐG ngày 16/02/2017, của Hội đồng

định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Thừa Thiên Huế đã xác định:

1 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Rolex, dây kim loại (mã DH17), số lượng

1.900 chiếc, đơn giá 390.000 đồng/chiếc, giá trị định giá: 1.900 chiếc x 390.000 đồng/chiếc = 741.000.000 đồng.

2 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Tissot, dây kim loại (mã DH68), số lượng

45 chiếc, đơn giá 399.000 đồng/chiếc, giá trị định giá: 45 chiếc x 399.000 đồng/chiếc = 17.955.000 đồng.

3 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Longines, dây kim loại (mã ĐH54), số

lượng 505 chiếc, đơn giá 310.000 đồng/chiếc, giá trị định giá: 505 chiếc x 310.000 đồng/chiếc = 156.550.000 đồng.

4 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Edifice Casio, dây kim loại (mã DH52),

số lượng 297 chiếc, đơn giá 320.000 đồng/chiếc, giá trị định giá: 297 chiếc x 320.000 đồng/chiếc = 95.040.000 đồng.

5 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Emporio Armani, dây da ( mã ĐH10), số

lượng 290 chiếc, đơn giá 199.000 đồng/chiếc, giá trị định giá: 290 chiếc x 199.000 đồng/chiếc = 57.710.000 đồng.

Tổng cộng giá trị định giá 3.037 chiếc đồng hồ là: 741.000.000 đồng +

17.955.000 đồng + 156.550.000 đồng + 95.040.000 đồng + 57.710.000 đồng = 1.068.255.000 đồng (Một tỷ, không trăm sáu mươi tám triệu, hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng chẵn). Giá trị trên được xác định tại thời điểm tháng 12/2015.

Bị cáo khai nhận toàn bộ số đồng hồ trên bị cáo mua của bà Nguyễn Thu

H tại chợ Đ ở Hà Nội với giá mỗi chiếc từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng, mục đích bán lại cho người khác nhằm thu lợi nhuận cụ thể như sau:

Sau một thời gian kinh doanh buôn bán đồng hồ tại Hà Nội, khoảng

tháng 9 năm 2015, Nguyễn Văn R trở về thành phố H để tiếp tục làm nghề buôn bán đồng hồ tại nhà của mình ở Nhà số 1, đường số 6, khu đô thị mới A, phường A, thành phố H. Nhưng R không đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin giấy phép đăng ký kinh doanh, kê khai thủ tục thuế... mà tự mình tổ chức việc mua bán các loại đồng hồ giả nhãn hiệu nước ngoài, không rõ nguồn gốc, xuất xứ như sau:

Nguyễn Văn R mua một bộ máy vi tính gồm 01 CPU không có nhãn

hiệu, 01 bàn phím hiệu VENUS, 01 đầu ghi camera, 01 hộp swich. Qua mạng Internet thuê bao lắp đặt, R tạo một tài khoản Facebook với tên gọi trang chủ là “ Thế giới đồng hồ 2D”, rồi R tiến hành quảng cáo các loại đồng hồ mà mình sẽ bán là đồng hồ của Nhật để người mua tin tưởng là hàng thật, chính hãng với giá cả như sau: Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Rolex giá bán từ 199.000 đồng đến 390.000 đồng/chiếc; Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Tissot giá bán 399.000 đồng/chiếc; Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Longines giá bán 310.000 đồng/chiếc; Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Edifice Casio giá bán 399.000 đồng/chiếc; Riêng loại đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Emporio Armani R chưa niêm yết giá bán vì mới mua về. R còn đánh số ký hiệu từng loại đồng hồ theo thứ tự là DH17, DH51, DH52, DH55, DH68, DH71...để người mua dễ tìm và chọn loại đồng hồ cần mua, cũng như thuận tiện cho việc xác nhận thông tin giữa người mua và người bán (Ví dụ: loại đồng hồ Casio là DH51, Edifece Casio là DH52, Rolex là DH17...). Sau đó, qua mạng Internet R thuê 3 nhân viên nữ là các chị: Võ Thị T, Nguyễn Thị Diệu H và Nguyễn Thị Mỹ H (đều không rõ họ tên thật, địa chỉ, nơi cư trú và số điện thoại liên lạc) để ba nhân viên này hàng ngày vào trang mạng Facebook “Thế giới đồng hồ 2D” liên lạc tìm khách hàng có nhu cầu mua đồng hồ và quảng cáo các loại đồng hồ cho R. Khi khách hàng đã xác nhận thông tin về loại đồng hồ cần sử dụng, giá cả là bao nhiêu tiền... thì các nhân viên sẽ báo lại cho R biết để tiến hành đóng gói đồng hồ cho họ theo địa chỉ mà khách hàng cung cấp. Ngày 01/10/2015, R ký hợp đồng số 151 với Bưu điện tỉnh Thừa Thiên Huế bằng các điều khoản cụ thể để sử dụng các gói dịch vụ như: Dịch vụ bưu phẩm bưu kiện trong nước, dịch vụ bưu phẩm chuyển phát nhanh, dịch vụ phát hàng thu tiền và các dịch vụ khác (nếu có). Trong đó, Bưu điện sẽ nhận chuyển phát các loại hàng hóa và đồng hồ (đã đóng gói) mà R giao cho, đồng thời trực tiếp thu tiền của các khách hàng về thanh toán lại cho R theo hợp đồng đã ký kết.

Từ ngày 01/10/2015 đến ngày 15/12/2015 Nguyễn Văn R đã bán hàng

qua mạng Internet được 2.455 gói bưu gửi, trong đó số lượng gói bưu gửi có ghi rõ nội dung mặt hàng “đồng hồ” là 1.407 gói, (nhưng không xác định được chính xác số lượng đồng hồ bên trong các gói là 1.047 chiếc đồng hồ hay nhiều hơn, vì R khai có nhiều gói bưu gửi số lượng có thể là một hoặc hai, ba chiếc) cho các khách hàng trên toàn quốc. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Với nội dung nêu trên tại bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2019/HS-ST

ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn R phạm tội “Buôn bán hàng giả”.

Áp dụng điểm a, khoản 3, khoản 4 Điều 156 Bộ luật hình sự năm 1999;

điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn R 04 (bốn) năm tù, nhưng được trừ thời gian tạm

giam là 01 năm 01 tháng 10 ngày tù (từ ngày 13/12/2017 đến ngày 23/01/2019). Bị cáo phải chấp hành hình phạt còn lại là 02 (hai) năm 10 (mười tháng) 20 (hai mươi) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải

nộp số tiền 50.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng án phí, và quyền kháng

cáo của bị cáo:

Ngày 27 tháng 8 năm 2019 bị cáo Nguyễn Văn R làm đơn kháng cáo xin

giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội

dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp Cao tại Đà Nẵng đề nghị hội đồng

xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn R, sửa án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn

kháng cáo của bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị

cáo, ý kiến người bào chữa và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện và đầy đủ chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Do mục đích vụ lợi, nên bị cáo Nguyễn Văn R đã mua 3.037 chiếc

đồng hồ đeo tay không có nguồn gốc xuất xứ với giá mỗi chiếc từ 50.000 đồng đến 60.000 đồng và cất giấu tại nhà của mình ở số 1, đường số 6, khu đô thị mới A, phường A, thành phố H. Sau đó bị cáo vào trang mạng xã hội Facebook lập tài khoản “Thế giới đồng hồ 2D” và đưa ra thông tin là hàng chính hiệu nhằm tìm kiếm khách hàng có nhu cầu mua đồng hồ để bán lại kiếm lời gồm: Loại nhãn hiệu Rolex giá bán từ 199.000 đồng đến 390.000 đồng/chiếc, loại nhãn hiệu Tissot giá bán 399.000 đồng/chiếc, loại nhãn hiệu Longines giá bán 310.000 đồng/chiếc, loại nhãn hiệu Edifice giá bán 399.000 đồng/chiếc, loại nhãn hiệu Emporio Armani bị cáo chưa niêm yết giá bán.

Tại bản kết luận giám định số 4556/ C54-P6 ngày 22/11/2016 của Viện

khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 3.037 chiếc đồng hồ đeo tay gửi giám định là giả nhãn hiệu.

Tại bản Kết luận số 366 ngày 16/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản

trong Tố tụng hình sự tỉnh Thừa Thiên Huế đã xác định:

1 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Rolex, dây kim loại (mã DH17) đơn giá

390.000 đồng/chiếc, giá trị định giá: 1900 chiếc.

2 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Tissot, dây kim loại (mã DH68), đơn giá

399.000 đồng/chiếc, giá trị định giá: 45 chiếc

3 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Longines, dây kim loại (mã ĐH54), đơn

giá 310.000 đồng/chiếc giá trị định giá: 505 chiếc

4 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Edifice Casio, dây kim loại (mã DH52),

đơn giá 320.000 đồng/chiếc. giá trị định giá: 297 chiếc

5 - Đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Emporio Armani, dây da ( mã ĐH10),

đơn giá 199.000 đồng/chiếc, giá trị định giá: 290 chiếc.

Tổng tài sản hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật có giá trị

là 1.068.255.000 đồng.

Với hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn R, Tòa án cấp sơ thẩm

đã xét xử bị cáo về tội “Buôn bán hàng giả”.Theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 156 Bộ luật hình sự năm 1999 là đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử

xét thấy: Bản án sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án 04 năm tù là thỏa đáng, sau khi có bản án sơ thẩm bị cáo tự nguyện nộp khoản tiền phạt bổ sung số tiền là 50.000.000 đồng theo biên lai số 9005434 ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế. Xét thấy bị cáo thực sự đã biết ăn năn hối cải và đây có thể coi là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS giảm nhẹ thêm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hện tính nhân đạo của pháp luật.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn R không phải chịu

theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố

tụng hình sự.

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn R; sửa Bản án sơ

thẩm số: 35/2019/ HS-ST ngày 14/8/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Áp dụng điểm a, khoản 3, khoản 4 Điều 156 Bộ luật hình sự năm 1999;

điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn R 03 (ba) năm tù, nhưng được trừ thời gian tạm

giam là 01 năm 01 tháng 10 ngày (từ ngày 13/12/2017 đến ngày 23/01/2019). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải

nộp số tiền 50.000.000 đồng, bị cáo đã nộp xong, không phải nộp nữa.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn R không phải chịu án phí

hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, và không

bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ