vanban.org

Bản án 346/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/07/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chaáp nhaän yeâu caàu cuûa nguyeân ñôn Công ty A.

1. Chấm dứt Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015 giữa Anh P và Công ty A. 2. Buộc anh P có trách nhiệm thanh toán trả Công ty A số tiền nợ gốc 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) phát sinh từ Giấy đề ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chaáp nhaän yeâu caàu cuûa nguyeân ñôn Công ty A.
  • Căn cứ chính? Điều 688 Bộ luật Dân sự; Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 346/2017/DS-ST
Ngày: 26 - 7 - 2017
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Chính

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh

2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nước - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2017, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2017/TLST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2017 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2017/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 194/2017/QĐST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty A

Trụ sở: Tầng M, Tòa nhà N, số U đường L, Phường P1, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh T, địa chỉ cư trú: Đường S, Phường O, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn “Văn bản ủy quyền số 13/UQTT-QTRR.17 ngày 26 tháng 6 năm 2017 và số 22/UQTT-QTRR.17 ngày 05 tháng 7 năm 2017”.

2. Bị đơn: Anh P Sinh năm: 1990

Địa chỉ: Tổ F, ấp H2, xã Y, huyện Z, Thành phố Hồ Chí Minh.

Anh T có mặt tại phiên tòa. Anh P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 11 năm 2016 của Công ty A và quá trình giải quyết vụ án anh M là người đại diện của nguyên đơn trình bày: Ngày 22 tháng 10 năm 2015 Công ty A và anh P đã giao kết hợp đồng (theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, được công ty phê duyệt ngày 29/10/2015), với nội dung Công ty A cho anh P vay số tiền 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).

Mục đích sử dụng vốn vay: Mua sắm dụng cụ gia đình.

Lãi suất vay: 3.75%/tháng.

Thời hạn vay: 24 tháng tính từ ngày 29/10/2015.

Hình thức đảm bảo: Không tài sản đảm bảo.

Kỳ hạn trả nợ gốc và lãi: 24 kỳ, trong đó 23 kỳ đầu mỗi tháng trả nợ 1,214,000 đồng, kỳ cuối cùng khách hàng phải trả số tiền còn lại 1,318,000 đồng. Ngày thanh toán hàng tháng: 01. Kỳ thanh toán đầu tiên được thực hiện vào ngày 01/12/2015 (kèm theo bảng kế hoạch trả nợ).

Thực hiện hợp đồng, anh P đã được Công ty A giải ngân số tiền vay 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) vào ngày 29/10/2015. Do anh P vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, đã không trả tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo bảng kế hoạch trả nợ mà các bên đã thỏa thuận nên Công ty A yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh P có trách nhiệm trả cho Công ty A số tiền 26,195,351đ (hai mươi sáu triệu một trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm năm mươi mốt đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh.

Đến ngày 15 tháng 6 năm 2017 Công ty A có đơn rút yêu cầu tính tiền lãi, chỉ yêu cầu anh P trả số tiền nợ gốc 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).

Bị đơn anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng phía anh P vẫn không có mặt tại Tòa án để tự khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không có lời khai của anh P tại Tòa án.

Tại phiên tòa, anh T là người đại diện của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng), yêu cầu trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn rút yêu cầu tính tiền lãi đối với bị đơn từ ngày 29/10/2015 đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi Tòa án nhân dân huyện Củ Chi thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu của Công ty A là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh P có trách nhiệm trả cho Công ty A số tiền nợ gốc 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng), trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ hồ sơ vụ án thể hiện anh P và Công ty A có giao kết hợp đồng tín dụng (theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015). Do phía anh P vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên xảy ra tranh chấp, vì vậy có cơ sở xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Xét thấy bị đơn có nơi cư trú tại huyện Củ Chi, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thời hiệu: Xét Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015 giữa anh P và Công ty A. Nội dung các bên thỏa thuận thời hạn vay là 24 tháng. Kỳ hạn trả nợ gốc và lãi được thực hiện làm 24 kỳ, kỳ thanh toán đầu tiên thực hiện vào ngày 01/12/2015. Quá trình thực hiện hợp đồng do anh P vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh nên vào ngày 16/01/2017 Công ty A đã khởi kiện. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 quy định “Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: d) Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”. Như vậy, tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện còn nằm trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ủy quyền cho anh M làm người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 956/UQTT-QTRR.16 ngày 25 tháng 11 năm 2016). Vào các ngày 26/6/2017 và 05/7/2017 nguyên đơn có văn bản ủy quyền lại cho anh T làm người đại diện của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 13/UQTT-QTRR.17 ngày 26 tháng 6 năm 2017 và số 22/UQTT-QTRR.17 ngày 05 tháng 7 năm 2017) để tham gia tố tụng tại Tòa án, vì vậy Tòa án tiến hành triệu tập anh T để tham gia tố tụng là đúng quy định.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi, mặc dù tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 11 năm 2016 Công ty A đã yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả tiền lãi, nhưng đến ngày 15 tháng 6 năm 2017 Công ty A có đơn và tại phiên tòa xin rút yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 29/10/2015 đến thời điểm xét xử sơ thẩm. Xét thấy, việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu Công ty A đã rút; nếu sau này Công ty A khởi kiện lại và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Công ty A không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử.

Anh P (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh P.

Xét thấy vụ án này Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ. Căn cứ khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp này Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phải tham gia phiên tòa theo quy định.

Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã thể hiện: Ngày 22 tháng 10 năm 2015 giữa Công ty A và anh P đã giao kết hợp đồng tín dụng (theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015) với nội dung Công ty A cho anh P vay số tiền 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Mục đích sử dụng vốn vay: Mua sắm dụng cụ gia đình. Lãi suất vay: 3.75%/tháng. Thời hạn vay: 24 tháng tính từ ngày 29/10/2015. Hình thức đảm bảo: Không tài sản đảm bảo. Kỳ hạn trả nợ gốc và lãi: 24 kỳ, trong đó 23 kỳ đầu mỗi tháng trả nợ 1,214,000 đồng, kỳ cuối cùng khách hàng phải trả số tiền còn lại 1,318,000 đồng. Ngày thanh toán hàng tháng: 01. Kỳ thanh toán đầu tiên được thực hiện vào ngày 01/12/2015 (kèm theo bảng kế hoạch trả nợ). Thực hiện hợp đồng, anh P đã được Công ty A giải ngân số tiền vay vào ngày 29/10/2015. Do anh P vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, đã không trả tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo bảng kế hoạch trả nợ mà các bên đã thỏa thuận nên Công ty A yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh P có trách nhiệm trả cho Công ty A số tiền nợ gốc 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).

Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015 được các bên giao kết tại thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau: c) Giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 để giải quyết”. Như vậy, khi giải quyết vụ án này cần pháp áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật.

Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mã số: 0102180545 đăng ký lần đầu ngày 15/02/2007 và đăng ký lần cuối cùng vào ngày 14/3/2016 thì Công ty A (chủ sở hữu là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng) là tổ chức tín dụng. Công ty A và anh P đã giao kết hợp đồng (Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914, phê duyệt ngày 29/10/2015). Hợp đồng được các bên xác định là tự nguyện thỏa thuận, ký kết phù hợp với quy định tại Điều 389 của Bộ luật Dân sự 2005. Hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 401 của Bộ luật Dân sự 2005. Về nội dung thỏa thuận trong hợp đồng không trái quy định của pháp luật và phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh của Công ty A nên được xác định là hợp pháp và có hiệu lực kể từ thời điểm hợp đồng được giao kết, là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 405 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

Xét quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh thanh toán cho Công ty A khoản nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo bảng kế hoạch trả nợ mà các bên đã giao kết. Phía bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay phía bị đơn vẫn vắng mặt cho thấy bị đơn đã từ bỏ nghĩa vụ chứng minh đã thanh toán khoản nợ gốc 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) còn nợ sau khi ký Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015 cho Công ty A. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định tính đến ngày 26/7/2017, phía bị đơn còn nợ của Công ty A số tiền nợ gốc chưa thanh toán là 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận của các bên tại điểm 3 Mục IV Phần B và các điểm 6, 7 Phần E của Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015, căn cứ vào Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nguyên đơn có quyền thu hồi nợ trước hạn đối với khoản nợ gốc này, vì vậy với yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) là có cơ sở để chấp nhận.

Xét số tiền nợ gốc này phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn đã lâu, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn, việc nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng), yêu cầu trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Về yêu cầu của nguyên đơn, xác định chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là tự nguyện, thời gian trả tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án và mức lãi suất yêu cầu của nguyên đơn là thấp hơn so với thỏa thuận của các bên đã ký tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015, đồng thời cũng có lợi cho phía bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu là 949,500đ (chín trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm đồng).

Công ty A được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 654,884đ (sáu trăm năm mươi bốn nghìn tám trăm tám mươi bốn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0006017 ngày 22 tháng 02 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; điểm c khoản 1 Điều 217; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 389; 401 và 405 của Bộ luật Dân sự 2005;

Căn cứ vào Điều 357; Điều 429; Điều 468 và các điểm c, d khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chaáp nhaän yeâu caàu cuûa nguyeân ñôn Công ty A.

1.1. Chấm dứt Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015 giữa Anh P và Công ty A.

1.2. Buộc anh P có trách nhiệm thanh toán trả Công ty A số tiền nợ gốc 18,990,000đ (mười tám triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng) phát sinh từ Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151027-500000-0914 ngày 22/10/2015, phê duyệt ngày 29/10/2015. Thực hiện làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Các bên thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 29/10/2015 đến ngày 26/7/2017 của Công ty A, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

3.1. Anh P phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 949,500đ (chín trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm đồng). Anh P chưa nộp án phí.

3.2. Công ty A được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 654,884đ (sáu trăm năm mươi bốn nghìn tám trăm tám mươi bốn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0006017 ngày 22 tháng 02 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Chính

Cỡ chữ