vanban.org

Bản án 345/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 23/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại.

Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 684.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Quốc C phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 345/2022/HSST
Ngày: 23 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Thanh Tùng

2. Ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý 377/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2022/QĐXX –HS ngày ngày 27 tháng 10 năm 2022, Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 215/2022/TB-TA ngày 10/11/2022, đối với bị cáo:

Bị cáo Trịnh Quốc C, sinh năm 1994; nơi cư trú: 148 đường P, phường S, thành phố Nha T, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Võ Trọng D (đã chết) và bà Trịnh Thị Kim S; tiền sự: không; tiền án: 01 tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 42/2013/HSPT ngày 25/3/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 12 tháng của Bản án ố 142/2011/HSST ngày 29/6/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang. Buộc phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 18 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/11/2013. Chưa đóng án phí hình sự phúc thẩm.

Nhân thân:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2011/HSST ngày 29/6/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án (phạm tội chưa đủ 18 tuổi).

- Bản án hình sự sơ thẩm số 160/2015/HSST ngày 30/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2018. Đã đóng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyết định số 175/QĐ-UBND phường Phương Sài, thành phố Nha Trang về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ ngày 09/7/2019 đến ngày 09/10/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2022; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Khánh H; nơi cư trú: Số 76 đường B, phường V, thành phố Nha T, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn H; nơi cư trú: Số Số 76 đường B, phường V, thành phố Nha T, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

2. Anh Vũ Văn H; nơi cư trú: Đường 2/4, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Phạm Văn D; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố về các hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/4/2021, Trịnh Quốc C đi trên đường Lê Hồng Phong, thành phố Nha Trang xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Khi đi đến trước nhà đường Lê Hồng Phong, phường Phước Hải, thành phố Nha Trang thì C phát hiện 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát: 59G1-... của anh Nguyễn Khánh H đang dựng trước cửa nhà, không có người trông giữ. Lúc này, C lén lút đi đến gần xe máy Honda Air Blade, dùng đoản phá khóa xe máy mang sẵn theo người phá ổ khóa xe máy, rồi khởi động máy điều khiển xe máy bỏ chạy.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Quốc C khai nhận vào ngày 30/4/2021, Khổng Tấn Nghĩa điều khiển xe máy hiệu Wave, biển kiểm soát: 29N1-... chở Trịnh Quốc C đi trên đường Lê Hồng Phong, thành phố Nha Trang xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Khi đi đến trước nhà số xxx đường Lê Hồng Phong, phường Phước Hải phát hiện 01 xe máy hiệu Honda AirBlade, biển kiểm soát: 59G1-.... đang dựng trước cửa nhà. Lúc này, Nghĩa ngồi trên xe đứng cảnh giới cho C lấy trộm xe máy trên. Sau khi lấy trộm được xe máy, C và Nghĩa mang xe máy Honda Air Blade vừa trộm cắp được đi đến đường Đề Pô, phường Phước Tân, thành phố Nha Trang gặp Hồ Chí Tân nhờ Tân bán giúp xe máy trên, Tân đồng ý và mang xe máy đi bán giúp C được số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Tiền bán xe máy C và Nghĩa chia nhau đã tiêu dùng hết. Tuy nhiên, quá trình điều tra Khổng Tấn Nghĩa và Hồ Chí Tân không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như Cường đã khai.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 192/KL-HĐĐGTS ngày 26/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Nha Trang kết luận: 01 xe máy hiệu Honda Air Blade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 59G1-247.47 có giá trị: 13.680.000 đồng (mười ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 268/CT-VKS-NT ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Trịnh Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố đối với bị cáo Trịnh Quốc C và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về phần dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Khánh H số tiền 13.680.000 đồng (mười ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng); tuyên quyền kháng cáo và án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Nhận thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo khai nhận:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/4/2021, tại trước nhà số xxx đường Lê Hồng Phong, phường Phước Hải, thành phố Nha Trang, Trịnh Quốc Cường đã lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Khánh H 01 xe máy hiệu Honda AriBlade, màu đen vàng, biển kiểm soát: 59G1-… có giá trị 13.680.000 đồng (mười ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng). Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ và tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người làm chứng; Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 268/CT-VKS-NT ngày 12 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật của Bộ luật hình sự, là có căn cứ đúng người, đúng tội.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có sức khỏe nhưng lười lao động, nên không chịu lao động chân chính mà chọn cho mình con đường phạm tội. Năm 2013 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt, nhưng chưa chấp hành xong phần án phí, nên chưa được xóa án tích. Do vậy, lần phạm tội này, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái pham, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, về nhân thân bị cáo có nhân xấu, trong các năm 2011 và năm 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử về các tội xâm phạm sở hữu; năm 2019 bị cáo bị bị Ủy ban nhân phường Phương Sài áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường với thời hạn 03 tháng. Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Hồ sơ vụ án cho thấy: Nguyên thủy chiếc xe máy biển số 59G1 -… là do ông Vũ Văn H… – Chủ hộ kinh doanh Vũ Văn H… bán cho ông Nguyễn H. Ông Nguyễn H là cha của bị hại anh Nguyễn Khánh H. Ông H cho con mình là anh H mươn để sử dụng. Do đó, Tòa án xác định bị hại anh Nguyễn Khánh H là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Khánh H yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 13.680.000 đồng, là giá trị chiếc xe bị chiếm đoạt theo định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh H. Nhận thấy yêu sự thỏa thuận này là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Vũ Văn H và ông Nguyễn H không có tranh chấp gì đối với chiếc xe nói trên, nên Hội đồng xét xử không xét.

Một số nội dung khác:

Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tiếp tục xác minh, điều tra đối với lời khai của bị cáo C về việc thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Nha Trang từ thời ngày 28/4/2021 đến ngày 03/5/2021.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa khẳng định Khổng Tấn Nghĩa là người rủ rê bị cáo và cũng là người đưa công cụ để bị cáo phá khóa xe máy, để thực hiện việc trộm cắp tài sản. Đối tượng Hồ Chí Tân biết rõ tài sản bị cáo trộm cắp mà có nhưng đã đồng ý đi bán giúp cho bị cáo. Để tránh bỏ lọt tội phạm, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tiếp tục xác minh, điều tra đối với đối tượng Hồ Chí Tân và Khổng Tấn Nghĩa để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 684.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trịnh Quốc C 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2022, .

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Khánh H số tiền 13.680.000 đồng (Mười ba triệu sáu trăm tám mươi đồng).

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 684.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ