- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 345/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07/4/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Khắc Nhu; 2. Bà Trần Thị Kim Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên toà: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên. Ngày 07 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 758/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Trường A, sinh năm 1991 - có đơn xin vắng mặt. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1985 - có đơn xin vắng mặt. Cùng địa chỉ: 36/9/17/21, đường X, tổ 46, Khu phố 4, phường X, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Lê Thị Trường A trình bày: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau từ năm 2012. Có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh T. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Nhưng gần đây đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên gây gỗ cải vả kiến không khí gia đình rất nặng nề căng thẳng. Dù đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không cải thiện. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nay nhận thấy tình cảm vợ chông không còn, không thể tiếp tục chung sống và hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn. Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Lê An N, sinh ngày 01/01/2016. Nếu được ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Lê An N, không cần ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Không có. Ngày 17/01/2021 Tòa án nhân dân Quận 12 có nhận đơn đề nghị của bị đơn Nguyễn Văn H trình bày: Ông đồng ý yêu cầu ly hôn bà Lê Thị Trường A. Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Lê An N, sinh ngày 01/01/2016. Ồng đồng ý yêu cầu của bà Lê Thị Trường A là giao bé Nguyễn Lê An N cho mẹ là bà Lê Thị Trường A nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành và không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung: Không có. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Bà A có đơn yêu cầu ly hôn và ông H đồng ý ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận bà An và ông H thuận tình ly hôn. Về con chung: Xét lợi ích mọi mặt của trẻ Nguyễn Lê An N căn cứ khoản 2 Điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung cho bà An trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Văn H do bà Lê Thị Trường A chưa có yêu cầu. Về tài sản chung: Bà A và ông H tự thỏa thuận nên không xem xét. Về nợ chung: Bà A và ông H xác định không có nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đang cư trú tại Quận 12 nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. [2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. [3]. Về nội dung tranh chấp: [3.1]. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 16/2012 quyển 01 ngày 24/9/2012, nên là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn nên bà A có đơn xin ly hôn ông H, còn ông H đồng ý ly hôn. Kết quả xác minh về quan hệ hôn nhân tại Hội Liên hiệp Phụ nữ phường X, Quận 12 thể hiện: “Giữa hai người thường xuyên mâu thuẫn và không hòa giải được”. Hội đồng xét xử xét thấy, bà A yêu cầu ly hôn và ông H đồng ý nên căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 công nhận bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H thuận tình ly hôn. [3.2]. Về con chung: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H có con chung Nguyễn Lê An N, sinh ngày 01/01/2016. Bà A yêu cầu là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy con Nguyễn Lê An N từ sau khi ly hôn cho đến khi con trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định nơi ăn ở, tinh thần, sức khỏe cần giao trẻ cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Văn H do bà Lê Thị Trường A chưa có yêu cầu. [3.3]. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét. [3.4]. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H xác định không có nên Tòa án không giải quyết. [4]. Về án phí: Yêu cầu của bà A được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. [5]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 55; Điều 57; Điều 58 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 1.1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H thuận tình ly hôn. Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận kết hôn số 16/2012 quyển 01 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh T cấp ngày 24/9/2012 không còn giá trị pháp luật. 1.2. Về con chung: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H có con chung Nguyễn Lê An N, sinh ngày 01/01/2016. Giao con chung Nguyễn Lê An N cho bà Lê Thị Trường A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Văn H do bà Lê Thị Trường A chưa có yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng cho con. 1.3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét. 1.4. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Lê Thị Trường A và ông Nguyễn Văn H xác định không có nên Tòa án không giải quyết. 2. Về án phí: Bà Lê Thị Trường A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0022358 ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lê Thị Trường A đã nộp đủ án phí. 3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, bổ sung năm 2014. 4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKSND Q.12; -CCTHADS Q.12; -UBND nơi cấp GCN kết hôn; -Các đương sự; -Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Hà |