vanban.org

Bản án 345/2018/SHPT

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 30/10/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y T Niê - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2018/HSST ngày 14/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt. [2] Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, kho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Y T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 345/2018/HSPT
Ngày 30 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr

Các Thẩm phán: 1. Ông Trịnh Văn Toàn

2. Bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 314/2018/TLPT-HS ngày 21/9/2018 đối với bị cáo Y T Niê về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 198/2018/HSST ngày 14/8/2018 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Y T Niê - sinh năm 1990, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Buôn K, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Ê đê; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Y P Bkrông và bà H’ I Niê; bị cáo có vợ là H’L Hmõk và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà H’N Niê (Tên gọi khác: Amí X), sinh năm 1964; Trú tại: Số O đường D, Buôn A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Y T Niê là nhân viên bảo vệ của quán cà phê S tại số O đường D, Buôn A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk do bà H’N Niê làm chủ. Trong quá trình làm việc, giữa Y T với bà H’N có xảy ra mâu thuẫn với nhau. Khoảng 07 giờ ngày 15/7/2017, trong lúc đang quét sân quán cà phê, Y T nhặt được 01 cây đinh bằng kim loại, dài khoảng 05 cm, bị rỉ sét 01 phần, màu nâu xám, có đầu nhọn. Lúc này, Y T nhìn thấy chiếc xe ô tô biển số 47A-153.95 nhãn hiệu BMW, màu sơn đỏ của bà H’N đang đậu ở sân quán, không có người quản lý. Do có mâu thuẫn từ trước nên Y T nảy sinh ý định dùng cây đinh vừa nhặt được đi xung quanh xe ô tô của bà H’N rồi dùng cây đinh cào nhiều phát vào phần đầu nắp capô, vè trước bên phải, vè trước bên trái, cửa sau bên trái (bên tài) làm hư hỏng trầy xước sơn. Sau đó Y T vứt cây đinh trên vào thùng rác và tiếp tục quay lại làm việc bình thường. Sau khi phát hiện sự việc bà H’N đã trình bào cơ quan Công an thành phố Buôn Ma Thuột để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tạm giữ xe ô tô biển số 47A – 153.95, nhãn hiệu BMW, màu sơn đỏ của bà H’N Niê và 01 đĩa VCD màu trắng, nhãn hiệu Sony ghi lại hình ảnh Y T Niê thực hiện hành vi là tang vật chứng của vụ án.

Tại kết luận định giá tài sản số 272/KLĐG ngày 10/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành định giá chi phí sửa chữa các bộ phận của xe ô tô biển số 47A – 153.95, kết luận: Vật tư sơn nắp capô trị giá 480.000 đồng, vật tư sơn vè trước LH trị giá 240.000 đồng, vật tư sơ vè trước RH trị giá 240.000 đồng, vật tư sơn cửa sau LH trị giá 270.000 đồng, công sơn trị giá 3.270.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là 4.500.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2018/HSST ngày 14/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Y T Niê phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 143; điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử phạt bị cáo Y T Niê 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/8/2018 bị cáo Y T Niê kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Y T Niê khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng và Bản án hình sự sơ thẩm cũng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Y T Niê về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999 là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt 06 tháng tù mà Bản án sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Sửa Bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo. Đồng thời, xét thấy Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt nhẹ hơn Bộ luật hình sự năm 1999 nên áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Y T Niê 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giữ nguyên các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau;

Lời khai của bị cáo Y T Niê tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Do bị cáo với bà H’N Niê có mâu thuẫn từ trước nên vào lúc 07 giờ ngày 15/7/2017 tại quán cà phê S ở số O đường D, Buôn A, phường T, thành phố B, bị cáo đã dùng 01 cây đinh bằng kim loại, dài khoảng 05 cm, có đầu nhọn mà bị cáo nhặt được cào nhiều phát vào võ xe ô tô biển số 47A – 153.95 của bà H’N đang đậu trước quán. Xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của bà H’N Niê là 4.500.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 143 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ pháp lý, đúng pháp luật.

Xét mức hình phạt 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Y T Niê là thỏa đáng. Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và tại các phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.000.000 đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B để khắc phục một phần hậu quả, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Như vậy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y T Niê - Sửa Bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt.

Do Bộ luật hình sự năm 2015 quy định hình phạt nhẹ hơn Bộ luật hình sự năm 1999 nên áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử đối với bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y T Niê - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2018/HSST ngày 14/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt.

[2] Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999;

- Xử phạt bị cáo Y T Niê 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

- Giao bị cáo Y T Niê cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

[3] Tạm giữ số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) mà bị cáo Y T Niê đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B theo biên lai thu số AA/2013/15560 ngày 16/10/2018 để đảm bảo công tác thi hành án về phần bồi thường thiệt hại.

[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ