vanban.org

Bản án 344 — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/11/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 2 iều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Trinh và chấp nhận một phần kháng nghị của Viện tr ởng Viện ki m sát nh n d n huyện Hàm Thuận Nam (nay là Viện ki m sát nh n d n khu vực 11 – L m ng). Sửa Bản án d n sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 09/5/2025 của T a án nh n d n huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị H tranh chấp hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy GCNQSD đất"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 2 iều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025);
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật d n sự; Bộ luật tố tụng d n sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T A N NH N D N

C N H A

H CH N H A V T NAM

T NH L M ĐỒN

Đ c l p – T do – H nh ph c Bản án số: 344/2025/DS-PT Ngày: 25-11-2025 V/v tranh chấp tuyên bố h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC C N H A

H CH N H A V T NAM

T A N NH N D N T NH L M ĐỒN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Ph ơng; ông Nguyễn Anh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông L ơng Trọng Kha, Th ký viên Toà án nh n d n t nh L m ng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà L ơng Thị Mai Chăm, Ki m sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 20 và 25 tháng 11 năm 2025, t i T a án nh n d n t nh Lâm

ng - Cơ sở 1 xét xử phúc thẩm công khai vụ án d n sự thụ lý số 127/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do Bản án d n sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025 của T a án nh n d n huyện Hàm Thuận Nam – nay là T a án nh n d n khu vực 11 - L m ng bị kháng cáo, kháng nghị, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 431/2025/Q -PT ngày 03 tháng 09 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 314/2025/Q -PT ngày 17 tháng 9 năm 2025, Quyết định t m ngừng phiên toà phúc thẩm số 32/2025/Q -PT ngày 30/9/2025, Thông báo về việc mở l i phiên toà phúc thẩm số 584/2025/TB-TA ngày 17/10/2025; Quyết định t m ngừng phiên toà phúc thẩm số 43/2025/Q -PT ngày 30/10/2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 613/2025/TB-TA ngày 13/11/2025, giữa các đ ơng sự:

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H nh, sinh năm 1985.

ịa ch : Thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là xã Hàm Th nh, t nh L m ng).

- Bị đơn: Bà Trần Thị Trinh, sinh năm 1956.

ịa ch : Số 439, thôn Phú H ng, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là xã Tuyên Quang, t nh L m ng).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Văn ph ng công chứng số 1 t nh Bình Thuận.

Ng ời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Văn ph ng công chứng số 1 t nh Bình Thuận: Ph ng công chứng số 2 t nh L m ng.

ịa ch : Số 06 Nguyễn Tất Thành, ph ờng Phan Thiết, t nh L m ng.

2. Ông ỗ Văn Lo n, sinh năm 1970.

ịa ch : Số 166, thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là xã Hàm Th nh, t nh L m ng).

3. Ông Nguyễn Văn Chi, sinh năm 1975.

ịa ch : Thôn Phú Phong, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là xã Tuyên Quang, t nh L m ng).

4. Sở Nông nghiệp và Môi tr ờng t nh L m ng.

ịa ch : Số 36 Trần Phú, ph ờng Xu n H ơng – à L t, t nh L m ng.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Hữu Th nh – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai khu vực Hàm Thuận Nam.

5. Ng n hàng Nông nghiệp và Phát tri n nông thôn Việt Nam (Chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận).

Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi ức Minh, Phó Giám đốc Chi nhánh Agribank Hàm Mỹ Bình Thuận (Giấy uỷ quyền số 192/NHNo.BTh.HM ngày 18/11/2025 của Giám đốc Agribank Chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận). ịa ch : 116 Phú H ng, xã Tuyên Quang, t nh L m ng.

- Người làm chứng:

1. Ông Huỳnh Văn Hiệp, sinh năm 1970.

ịa ch : Số 90, thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là xã Hàm Th nh, t nh L m ng).

2. Ông ỗ Văn M nh, sinh năm 1967.

ịa ch : Thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là xã Hàm Th nh, t nh L m ng).

3. Ông Nguyễn Văn Thi, sinh năm 1969.

ịa ch : Thôn Phú Phong, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là xã Tuyên Quang, t nh L m ng).

- Người háng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Trinh.

- Người háng nghị: Viện tr ởng Viện ki m sát nh n d n huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là Viện tr ởng Viện ki m sát nh n d n khu vực 11 - L m ng).

T i phiên toà có mặt bà Nguyễn Thị H nh, bà Trần Thị Trinh, ông Nguyễn Văn Chi, ông Bùi ức Minh, các đ ơng sự c n l i vắng mặt.

N DUN VỤ N

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hạnh trình bày:

Vào tháng 5/2015 do cần tiền đầu t thanh long nên bà Nguyễn Thị H nh có vay của ông Trần Ngọc Tố số tiền là 400.000.000 đ ng thời h n vay 06 tháng, lãi suất 5%/tháng. Khi vay vốn, bà H nh thế chấp tài sản là 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban nh n d n huyện Hàm Thuận Nam cấp, g m: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912 ngày 30/8/1999, cập nhật biến động ngày 15/12/2006, ngày 06/11/2014; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078 ngày 05/12/2007, cập nhật biến động ngày 05/11/2014 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391079 ngày 05/12/2007, cập nhật biến động ngày 05/11/2014 và lập H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất (giả cách) đối với các thửa đất theo 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông Trần Ngọc Tố.

Tháng 8/2015, bà H nh có quen biết bà Trần Thị Trinh và biết đ c bà Trinh có tiền cho nhiều ng ời vay nên có t m sự về việc vay tiền của ông Tố. Bà Trinh nói sẽ giúp bà H nh và cho bà H nh vay số tiền 400.000.000 đ ng đ trả cho ông Tố, lãi suất 3%/tháng đ bà lấy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp cho ông Tố sang cho bà Trinh đ đảm bảo cho khoản vay 400.000.000 đ ng trên. Vì tin t ởng bà Trinh nên bà H nh đã đ ng ý vay số tiền 400.000.000 đ ng đ trả cho ông Tố và nhận l i các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp.

Ngày 27/8/2015, bà Trinh đ a bà H nh và ông Tố đến Văn ph ng công chứng số 1, t nh Bình Thuận đ làm h p đ ng thế chấp. Sau khi Công chứng viên làm xong các giấy tờ vì tin t ởng bà Trinh và công chứng viên nên khi công chứng viên yêu cầu bà H nh viết vào h p đ ng “đã đọc, đã đ ng ý” bà H nh đã viết và ký tên mà không đọc l i. Khi ký xong bà Trinh không đ a tiền cho bà H nh mà trực tiếp đ a số tiền 400.000.000 đ ng cho ông Tố và giữ toàn bộ giấy tờ và công chứng viên cũng không đ a cho bà H nh bản h p đ ng nào.

ến cuối năm 2015, bà Trinh bỗng nhiên đến yêu cầu bà H nh phải giao toàn bộ nhà đất cho bà Trinh vì bà Trinh nói bà H nh đã bán cho bà Trinh. Bà H nh tr ớc giờ vẫn nghĩ là ch thế chấp tài sản đ bảo đảm cho khoản vay 400.000.000 đ ng cho bà Trinh. ến tháng 01/2016 bà Trinh rao bán toàn bộ tài sản của bà H nh, bà H nh đã đến gặp bà Trinh nói chuyện thì mới biết h p đ ng tr ớc đ y bà Trinh đã cố tình lừa bà H nh đ ký h p đ ng chuy n nh ng chứ không phải h p đ ng thế chấp nên bà H nh đã khởi kiện ra T a yêu cầu hủy h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất và hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà H nh đã sang tên cho bà Trần Thị Trinh.

T i phiên t a, bà Nguyễn Thị H nh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.

Bị đơn bà Trần Thị Trinh trình bày:

Bà Trần Thị Trinh và bà Nguyễn Thị H nh có mối quan hệ với nhau là b n làm ăn, khi bà H nh thiếu vốn thì bà Trinh có cho bà H nh m n tiền đ làm ăn. Ngày 18/8/2014, bà H nh có vay của bà Trinh 200.000.000 đ ng đ trả ng n hàng và bà Trinh có cho bà H nh vay, thời h n vay là 7 ngày k từ ngày vay. Tuy nhiên khi đến h n trả n nh ng bà H nh vẫn ch a trả tiền cho bà Trinh nên bà H nh vẫn c n n bà Trinh 200.000.000 đ ng. Ngày 03/01/2015, do cần tiền đ lo việc gia đình nên bà H nh đã đ ng ý chuy n nh ng cho bà Trinh diện tích 1.200m2 đất cùng hơn 100 trụ thanh long cho bà Trinh. Hai bên có thỏa thuận lập giấy chuy n nh ng quyền sử dụng đất, giấy do bà H nh viết, các bên cùng thống nhất ký tên vào giấy. Việc thoả thuận chuy n nh ng đất c n có ông Huỳnh Văn Hiệp là tr ởng thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh chứng kiến và ký xác nhận vào giấy chuy n nh ng đất. Tuy nhiên, đã quá l u nh ng bà H nh vẫn ch a trả tiền cho bà Trinh. Thời đi m đó bà H nh đang n ông Tố 400.000.000 đ ng vì thế nên bà H nh đã đ ng ý chuy n nh ng quyền sử dụng đất cho bà Trinh, bà Trinh sẽ trả tiền cho ông Tố thay bà H nh số tiền 400.000.000 đ ng tiền gốc và 70.000.000 đ ng tiền lãi, tổng là 470.000.000 đ ng. Ngày 27/8/2015, bà Trinh có đem tiền đến Văn ph ng công chứng cùng ông Tố và bà H nh, bà Trinh đã đ a cho ông Tố 470.000.000 đ ng đ ông Tố hủy giấy vay tiền giữa ông Tố và bà H nh, đ ng thời sang nh ng các thửa đất đó cho bà Trinh với lý do bà H nh đã đ ng ý chuy n nh ng quyền sử dụng đất cho bà Trinh. Bà Trinh, bà H nh và mẹ của bà H nh đã thỏa thuận với nhau t i nhà tr ởng thôn, có ghi giấy đàng hoàng. Hai lần ghi giấy, lần một là bà H nh đ ng ý chuy n nh ng 1200m2 đất cho bà Trinh, lần thứ hai là bà H nh đ ng ý chuy n nh ng toàn bộ số đất cho bà Trinh với giá 850.000.000 đ ng. Thời đi m đó đ ng thời hủy giấy vay tiền giữa bà H nh - ông Tố và bà H nh viết giấy sang tên đất cho bà Trinh. Năm 2016, 2017 bà Trinh làm thanh long trên đất của bà H nh nh ng bà H nh không có ý kiến gì, bà Trinh vẫn thuê ng ời làm bình th ờng. ến năm 2017 bà H nh gửi đơn khởi kiện đ i l i đất, T a án nh n d n t nh Bình Thuận đã đình ch giải quyết vụ án, sau đó bà H nh đã gửi đơn kiện lên T a án nh n d n cấp cao, T a án nh n d n cấp cao t i Thành phố H Chí Minh xử y án. Từ đó về sau, bà Trinh vẫn lên làm thanh long bình th ờng, bà Trinh có thuê nh n công đến làm, tuy nhiên bà H nh ngăn cản, đập phá không cho bà Trinh canh tác. Bà Trần Thị Trinh có làm đơn gửi lên xã nh ng không ai giải quyết. Từ đó đến nay khoảng 09 năm r i, bà Trinh không canh tác thanh long đ c, bỏ v ờn thanh long khô héo, làm giảm chất l ng cũng nh tiêu hao về sản l ng thanh long dẫn đến thu nhập bị giảm sút. Bà Trinh yêu cầu T a án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án t i cấp sơ thẩm bà Trinh không đ ng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bình Thuận (nay là Phòng công chứng số 2 tỉnh Lâm Đồng) trình bày tại Công văn số 50/CV-PCC ngày 15/7/2024:

Ngày 27/8/2015, Ph ng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận có thụ lý và lập h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất của đ ơng sự có tên nêu trên (Nguyễn Thị Hạnh, Trần Thị Trinh). Khi làm h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất, bên chuy n nh ng đã cung cấp cho công chứng viên các lo i giấy tờ có liên quan đến h p đ ng chuy n nh ng nh : Phiếu yêu cầu công chứng, chứng minh nh n dân mang tên bà Trần Thị H nh, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391079. Bên nhận chuy n nh ng cung cấp phiếu yêu cầu công chứng, chứng minh nh n d n mang tên Trần Thị Trinh, sổ hộ khẩu và đơn đề nghị xác nhận hộ gia đình, cá nh n trực tiếp sản xuất nông nghiệp có xác nhận của UBND xã Hàm Mỹ. Sau khi các bên cung cấp đầy đủ các lo i giấy tờ có liên quan đến việc chuy n nh ng đúng quy định của pháp luật về công chứng, công chứng viên đã ki m tra chữ ký của các bên liên quan tham gia giao dịch, ki m tra thông tin có liên quan đến tài sản và đã thực hiện việc chứng nhận h p đ ng chuy n nh ng vào sổ công chứng số 8254, quy n số 08 TP/CC-SCC/H GD. T i thời đi m ký h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất, các bên tham gia đã tự nguyện thỏa thuận giao kết, có năng lực hành vi d n sự theo quy định của pháp luật, nội dung của h p đ ng không vi ph m pháp luật, không trái đ o đức xã hội và đã đ ng ý toàn bộ nội dung h p đ ng, đã ký vào từng trang của h p đ ng. ng thời, t i trang cuối của h p đ ng có ghi đầy đủ thông tin họ, tên, chữ ký, đi m ch của các bên tham gia. Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn Loạn trình bày:

Bà Nguyễn Thị H nh cho rằng diện tích đất ông Lo n đang quản lý, sử dụng là đất của gia đình bà H nh là không đúng vì diện tích đất ông Lo n đã đ c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2006 (thửa đất số 18A, tờ bản đ số 09, diện tích 1056m2), diện tích đất của ông Lo n không nằm trong các thửa đất hiện nay bà Trinh và bà H nh đang tranh chấp. Ngu n gốc diện tích đất này là ½ đám ruộng xéo của ông ngo i của ông Lo n (Ông ngo i của ông Lo n là ba ruột của bà inh Thị Hoa, bà Hoa là mẹ ruột của bà Nguyễn Thị H nh) và ½ là g đất rừng khoảng 700m2 ông Lo n khai phá ra. ám ruộng xéo đ c đ a vào H p tác xã Hàm Th nh năm 1984 sau đó H p tác xã lấy đất của đám ruộng này làm đ ờng nên trở thành ao n ớc, thấy vậy ông Lo n làm đơn xin đám ruộng và g đất đ cất nhà ở. Năm 1986 khi đ c H p tác xã cho đất ông Lo n về đ y ở, khai phá ra thêm nh diện tích đất hiện nay. ến năm 2006 đ c nhà n ớc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 099454 đứng tên ông ỗ Văn Lo n.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam (Chi nhánh Hàm Mỹ - Bình Thuận) do người đại diện hợp pháp trình bày: Ngân hàng đã có Công văn số 168/NHNo.BTh-KHCN ngày 10/10/2025 và Công văn số 191/NHNo.BTh-KHCN ngày 14/11/2025 cung cấp thông tin tài liệu liên quan việc bà Trần Thị Trinh đang vay thế chấp t i Agribank Chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận với 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất g m B 24496, BX 008306, BX 008196, BX 008197, BX 008308, BX 008198, BX 008304, BX 008303, CU 242005 theo H p đ ng tín dụng số 4806LAV202500957 ngày 03/6/2025 với số tiền vay 200.000.000đ ng, thời h n vay 12 tháng, d n t i thời đi m 12/11/2025 là 200.000.000đ ng; H p đ ng tín dụng số 4806LAV202500033 ngày 08/01/2025 với số tiền vay 2.000.000.000đ ng, thời h n vay 12 tháng, d n t i thời đi m 11/2025 là 2.000.000.000đ ng. Các Quyền sử dụng đất trên đ c Agribank chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận nhận thế chấp theo 03 H p đ ng thế chấp quyền sử dụng đất: H p đ ng thế chấp số HM40/H TC ngày 04/6/2024 số công chứng 001851 ký t i Văn ph ng công chứng Huỳnh Lê Hoàng, g m các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: BX 008306, BX 008196, BX 008197, BX 008308; đăng ký thế chấp t i Văn ph ng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam ngày 06/6/2024; H p đ ng thế chấp HMA308/H TC ngày 07/01/2025, số công chứng 000054 ký t i Văn ph ng công chứng Huỳnh Lê Hoàng, g m các giấy chứng nhận quyền sừ dụng đất BX 008198, BX 008304, CU 242005; BX 008303, đăng ký thế chấp t i Văn ph ng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam ngày 08/01/2025; H p đ ng thế chấp số HMA20/H TC ngày 13/6/2022 số công chứng 005416 ký t i Văn ph ng công chứng Huỳnh Lê Hoàng, g m giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: B 24496, đăng ký thế chấp t i Văn ph ng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam ngày 16/6/2022. Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên Ng n hàng đang giữ; các khoản vay của bà Trinh đều ch a đến h n và bà Trinh vẫn thực hiện nghĩa vụ trả lãi đảm bảo theo quy định. Ng n hàng ch a phát sinh yêu cầu độc lập, Ng n hàng đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giải quyết bảo đảm quyền và l i ích h p pháp cho Ng n hàng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng– do ông Trần Hữu Th nh là ng ời đ i diện theo uỷ quyền trình bày: Tr ớc đ y Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận (cũ) đã có Công văn số 5629/STNMT-VP K ngày 10/10/2024 cung cấp h sơ, tài liệu và có ý kiến liên quan việc cấp 10 Giấy chứng nhận BX 008303, BX 008196, BX 008358, BX 008357, BX 008304, BX 008306, BX 008308, BX 008197, BX 008198, BX 008305 cho bà Trần Thị Trinh là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Việc đăng ký biến động chuy n nh ng quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị H nh sang bà Trần Thị Trinh, Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp mới 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Trinh là đúng quy định của pháp luật. Sở Nông nghiệp và Môi tr ờng t nh L m ng không có ý kiến gì đối với vụ án và cũng không có ý kiến gì về việc Toà án nh n d n t nh L m ng bổ sung Sở Nông nghiệp và Môi tr ờng t nh L m ng tham gia tố tụng với t cách là ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan -ông Nguyễn Văn Chi trình bày:

Ông Nguyễn Văn Chi là cháu họ của bà Trần Thị Trinh, ông Chi gọi bà Trinh bằng “dì”. Trong việc mua bán đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và bà Trần Thị Trinh nh thế nào ông không nắm rõ lắm. Nh ng khi bà Trinh gọi ông lên làm công chăm sóc v ờn thanh long giúp bà Trinh thì ông có biết rẫy thanh long đó bà H nh đã bán cho bà Trinh. Ông làm công chăm sóc thanh long cho bà Trinh đ c 02 năm (2017 – 2018) bình th ờng, thậm chí ông c n ăn, ngh tr a t i nhà bà H nh. ến cuối năm 2018, đầu năm 2019 khi bà Trinh chuy n nh ng diện tích đất này cho bà ỗ Thị Cảnh (bà Năm Cảnh) thì lúc đó bà H nh, bà Hoa (mẹ bà H nh) ngăn cản không cho ông làm thanh long nữa. Ông Chi nghe nói bà H nh và bà Trinh bàn với nhau bán đất này. Bà Cảnh nghe bà Trinh bán đất nên hỏi mua và ch ng tiền cọc cho bà Trinh số tiền 300.000.000 đ ng/1.200.000.000 đ ng. Bà Cảnh ra đất làm, thả gà, vịt qua l i nên con bà Cảnh với bà H nh xảy ra cãi vã đ i đánh nhau nên bà H nh không cho làm nữa. Bà Cảnh đ i lấy tiền cọc l i, trả đất và bà Trinh cũng đã trả l i tiền cọc cho bà Cảnh đ ng thời thuê ông Chi và những ng ời khác lên chăm sóc thì lúc đó bà H nh ra ngăn cản cho đến b y giờ. Trong vấn đề này, ông Chi thấy bà H nh hoàn toàn sai trái vì đất đã chuy n nh ng cho bà Trinh. Ông Nguyễn Văn Chi thống nhất với ý kiến của bà Trinh, năm 2018 bà Trinh có nhờ ông đứng tên trên các thửa đất lúa và đất tr ng c y l u năm tổng diện tích 11.747m² nêu trên do bà Trinh có n xấu không thế chấp vay Ng n hàng đ c, ngày 21/8/2018 bà Trinh có ký h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất số công chứng số 2114, quy n số 02/TP/CC- SCC/H GD ngày 21/8/2018 t i Văn ph ng công chứng Hàm Thuận Nam chuy n nh ng 09 thửa đất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008303; BX 008358; BX 008357; BX 008198; BX 008197; BX 008196; BX 008308; BX 008306; BX 008304 do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp cho bà Trinh ngày 24/12/2015; sau đó ngày 21/9/2018 Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam đã cập nhật chuy n nh ng cho ông Nguyễn Văn Chi t i các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên. ến ngày 08/10/2019, ông Nguyễn Văn Chi và v là bà Phan Thị Hằng đã ký H p đ ng chuy n nh ng số Công chứng 002031 do Văn ph ng Công chứng Trần Ngọc Du chứng nhận chuy n nh ng l i 09 thửa đất trên cho bà Trinh, sau đó ngày 11/10/2019 Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam đã cập nhật biến động chuy n nh ng l i cho bà Trần Thị Trinh. Thực tế ông cũng ch đứng tên giúp bà Trinh trên các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên một thời gian ngắn, c n l i tài sản vẫn thuộc quyền sử dụng của bà Trinh.

* Người làm chứng – Ông Huỳnh Văn Hiệp trình bày:

Ông không có bà con họ hàng gì với bà Nguyễn Thị H nh cũng nh với bà Trần Thị Trinh. Tr ớc đ y ông là thôn tr ởng thôn D n Thuận thời gian từ năm 2008 – 2019. Tháng 01/2015 bà Nguyễn Thị H nh và bà inh Thị Hoa (mẹ ruột của bà H nh), bà Nguyễn Thị Hiệp (chị ruột của bà H nh) có đến gặp ông Hiệp đặt vấn đề nhờ ông viết giấy tay đ chuy n nh ng đất cho bà Trần Thị Trinh. Ông Hiệp không viết mà h ớng dẫn nội dung, sau đó bà H nh viết giấy sang nh ng đất nội dung bán 1.200m2 đất, trên đất có 120 trụ thanh long, bán riêng 200m2 đất đ ờng đi (3m x 70m) với số tiền 150.000.000 đ ng. Sau khi mua đất, bà Trinh vẫn đ l i cho bà H nh m n l i đ chăm sóc, ăn trái. Tháng 8/2015, bà H nh tiếp tục viết giấy tay t i nhà ông Hiệp tiếp tục bán cho bà Trinh diện tích đất 11.747m2 trên đất có 1.200 trụ thanh long với số tiền 850.000.000 đ ng. Sau khi mua rẫy xong bà Trinh canh tác, chông đèn đến khi trái chín thì bà H nh, bà Hoa ra ngăn cản cho rằng ch bán đất chứ không bán trụ thanh long và xảy ra tranh chấp. Trong vấn đề này, ông Hiệp thấy bà H nh hoàn toàn sai trái vì bà H nh đã viết giấy tờ bán đất cho bà Trinh.

* Người làm chứng – Ông Nguyễn Văn Thi trình bày:

Ông Nguyễn Văn Thi là cháu họ của bà Trần Thị Trinh, ông Nguyễn Văn Thi gọi bà Trinh bằng “dì”. Thực tế việc mua bán đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và bà Trần Thị Trinh nh thế nào ông không nắm rõ lắm. Ông ch là ng ời làm công chăm sóc v ờn thanh long cho bà Trinh khi bà Trinh nhờ. Khi ông lên đất làm thì bà H nh ra ngăn cản không cho làm nên ông Thi về, rất nhiều lần nh vậy.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam (nay là Toà án nhân dân hu vực 11 –Lâm Đồng) đã quyết định:

Áp dụng:

Khoản 3 iều 26; đi m a khoản 1 iều 35; đi m a khoản 1 iều 39; iều 144; iều 147; khoản 1 iều 158; iều 165; khoản 1 iều 166, iều 184; iều 235; iều 269 và iều 273 của Bộ luật tố tụng d n sự;

- iều 121, 122, 123, 124, 127, 129 và iều 136 Bộ luật d n sự năm 2005;

- Khoản 1 iều 12; khoản 2 iều 26 và khoản 3 iều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban th ờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí T a án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H nh đối với bị đơn bà Trần Thị Trinh.

Tuyên bố: H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất chứng thực ngày 27/8/2015 t i Ph ng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận là vô hiệu do giả t o; hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008303, số BX 008304, số BX 008305, số BX 008306, số BX 008308, số BX 008196, số BX 008197, số BX 008198, số BX 008357, số BX 008358 đứng tên bà Trần Thị Trinh, đăng ký biến động chuy n nh ng cho ông Nguyễn Văn Chi ngày 21/9/2018 và đăng ký biến đ ng chuy n nh ng cho bà Trần Thị Trinh ngày 17/10/2019.

Buộc bà Trần Thị Trinh phải trả l i các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912; số AL 391078 và số AL 391079 cho bà Nguyễn Thị H nh.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm c n quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 13/5/2025, bị đơn bà Trần Thị Trinh có đơn kháng cáo toàn bộ bản án d n sự sơ thẩm.

Ngày 20/5/2025, Viện tr ởng Viện ki m sát nh n d n huyện Hàm Thuận Nam (nay là Viện ki m sát nh n d n khu vực 11 – L m ng) có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/Q -VKS-DS kháng nghị toàn bộ bản án d n sự sơ thẩm, đề nghị T a án cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo h ớng hủy bản án d n sự sơ thẩm, chuy n h sơ vụ án cho T a án nh n d n cấp sơ thẩm giải quyết l i vụ án theo thủ tục sơ thẩm, với những lý do: H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận có hiệu lực. Tuy nhiên, quá trình giải quyết bà Trần Thị Trinh và bà Nguyễn Thị H nh đều thừa nhận 2 bên không giao dịch chuy n nh ng thửa số 40, tờ bản đ số 09 diện tích 672,0m2 thuộc Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 391078 và căn nhà trên thửa đất này. Nh ng t i phần 2 iều 1 trong h p đ ng có ghi: chuyển nhượng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đồ số 09, diện tích 672,0m2 là có sự nhầm lẫn. H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận vô hiệu một phần đó là phần 2 trong iều 1 của h p đ ng: chuyển nhượng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đồ số 09, diện tích 672,0m2. Việc vô hiệu phần 2 iều 2 của h p đ ng không làm ảnh h ởng đến những phần c n l i của h p đ ng.

Về yêu cầu hủy toàn bộ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp cho bà Trần Thị Trinh: Theo quy định t i iều 105, iều 195 Luật đất đai năm 2013 và iều 79 Nghị định 43/2014/N -CP, phần 2, mục II Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của T a án nh n d n tối cao thì việc cấp l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận là thực hiện theo h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất cho nên đ y là thủ tục hành chính trong giao dịch d n sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt đo đó không cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trinh.

Hiện nay bà Trần Thị Trinh đã đ c Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp l i 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 008303, số BX 008304, số BX 008305, số BX 008306, số BX 008308, số BX 008196, số BX 008197, số BX 008198, số BX 008357, số BX 008358 nên bà Trinh không c n 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912; số AL 391078 và số AL 391079 đ trả cho bà Nguyễn Thị H nh. Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị H nh ch yêu cầu hủy h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà H nh và bà Trinh ký ngày 27/8/2015 t i Ph ng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận và hủy 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trinh chứ không yêu cầu giải quyết hậu quả của h p đ ng. Nh ng Bản án sơ thẩm tuyên buộc bà Trần Thị Trinh phải trả l i các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912; số AL 391078 và số AL 391079 cho bà H nh là v t quá yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- i diện Viện ki m sát nh n d n t nh L m ng giữ nguyên Quyết định kháng nghị của Viện tr ởng Viện ki m sát nh n d n khu vực 11 - L m ng.

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án d n sự sơ thẩm.

- Bị đơn giữ nguyên ý kiến nh đã trình bày t i phiên t a sơ thẩm, bản khai đề ngày 17/01/2022 và yêu cầu kháng cáo, yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo h ớng: Ch chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên vô hiệu một phần H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận đối với phần 2 trong iều 1 của h p đ ng: chuy n nh ng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đ số 09, diện tích 672,0m2 do nhầm lẫn. Bởi thực tế hai bên khi làm giấy tay chuy n nh ng quyền sủ dụng đất bà H nh và bà Trinh không chuy n nh ng thửa đất có nhà ở, bà H nh vẫn ở trên thửa đất này từ tr ớc đến nay, trên thực tế bà Trinh ch nhận chuy n nh ng các thửa đất lúa và đất tr ng c y l u năm c n l i tổng diện tích 11747m2 (ngoài diện tích đất ở 672m2) theo phần c n l i của H p đ ng.

Ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Chi thống nhất với ý kiến của bà Trinh. Giữa ông và bà Trinh không có tranh chấp nên ông không có ý kiến cũng nh không có khiếu n i gì về việc Toà án cấp phúc thẩm bổ sung ông tham gia tố tụng với t cách ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan.

Ng ời có quyền l i nghĩa vụ liên quan đ i diện h p pháp của Ng n hàng Nông nghiệp phát tri n Nông thôn Việt Nam (chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận) có ý kiến, Ng n hàng đã có Công văn số 168/NHNo.BTh-KHCN ngày 10/10/2025 và Công văn số 191/NHNo.BTh-KHCN ngày 14/11/2025 cung cấp thông tin, tài liệu liên quan vụ án. Việc Toà án cấp sơ thẩm không đ a Ng n hàng tham gia tố tụng và nay Toà án cấp phúc thẩm bổ sung Ng n hàng tham gia tố tụng, Ng n hàng không có ý kiến hay khiếu n i gì, Ng n hàng ch a phát sinh yêu cầu độc lập, tr ờng h p Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm thì Ng n hàng sẽ xem xét khởi kiện bằng vụ án d n sự khác. Tuy nhiên, Ng n hàng đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giải quyết bảo đảm quyền và l i ích h p pháp cho Ng n hàng.

- Ki m sát viên tham gia phiên t a phát bi u ý kiến của Viện ki m sát về việc tu n theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đo n phúc thẩm và quan đi m giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên t a và Hội đ ng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự; các đ ơng sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự.

Về nội dung vụ án: H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Văn ph ng công chứng số 1 t nh Bình Thuận có hiệu lực. Tuy nhiên, quá trình giải quyết và t i phiên t a sơ thẩm, bà Trần Thị Trinh và bà Nguyễn Thị H nh đều thừa nhận 2 bên không giao dịch chuy n nh ng thửa số 40, tờ bản đ số 09 diện tích 672,0m2 thuộc Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 391078 và căn nhà trên thửa đất này. Nh ng t i phần 2 iều 1 trong h p đ ng có ghi: chuyển nhượng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đồ số 09, diện tích 672,0m2 rõ ràng là có sự nhầm lẫn, không đúng đối t ng chuy n nh ng. Theo quy định t i khoản 1 iều 126, iều 130 Bộ luật d n sự năm 2015, h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Văn ph ng công chứng số 1 t nh Bình Thuận vô hiệu một phần đó là phần 2 trong iều 1 của h p đ ng: chuyển nhượng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đồ số 09, diện tích 672,0m2. Việc vô hiệu phần 2 iều 2 của h p đ ng không làm ảnh h ởng đến những phần c n l i của h p đ ng. Xét thấy, bà Trinh đã thế chấp các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008303, số BX 008304, số BX 008306, số BX 008308, số BX 008196, số BX 008197, số BX 008198 do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp ngày 24/12/2015 đứng tên bà Trần Thị Trinh t i Ng n hàng Nông nghiệp và Phát tri n Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận theo H p đ ng thế chấp số HM40/H TC ngày 04/06/2024 và H p đ ng thế chấp số HMA308/H TC ngày 07/01/2025 tr ớc thời đi m Toà án nhân dân khu vực 11 –L m ng xét xử và ban hành Bản án sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 09/5/2025. Từ những ph n tích trên, xét thấy, T a án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất chứng thực ngày 27/8/2015 t i Ph ng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận là vô hiệu do giả t o; hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008303, số BX 008304, số BX 008305, số BX 008306, số BX 008308, số BX 008196, số BX 008197, số BX 008198, số BX 008357, số BX 008358 đứng tên bà Trần Thị Trinh là không có căn cứ. Hơn nữa việc không đ a Ng n hàng Nông nghiệp và Phát tri n Nông thôn Việt Nam chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận và Sở Nông nghiệp và Môi tr ờng t nh Lâm

ng vào tham gia tố tụng dẫn đến các cơ quan này không thực hiện đ c các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật đ bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của mình theo quy định t i iều 70, 73, 74 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015, không đảm bảo đ c nguyên tắc hai cấp xét xử, đ y là vi ph m nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh h ởng đến quyền và l i ích h p pháp của các đ ơng sự nên cần phải hủy bản án sơ thẩm đ giải quyết l i vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Kháng cáo của bà Trần Thị Trinh và kháng nghị của Viện tr ởng Viện ki m sát nhân dân khu vực 11 là có cơ sở chấp nhận. Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 3 iều 308, iều 310 Bộ luật Tố tụng d n sự, đề nghị Hội đ ng xét xử: Chấp nhận kháng nghị của Viện ki m sát nh n d n khu vực 11 và chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Trinh. Hủy Bản án sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 09/5/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11, chuy n h sơ vụ án cho Toà án nhân dân khu vực 11 giải quyết l i vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH C A T A N:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý iến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị: ơn kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Trinh, quyết định kháng nghị của Viện tr ởng Viện ki m sát nh n d n huyện Hàm Thuận Nam làm trong thời h n luật định, nội dung kháng cáo, kháng nghị nằm trong ph m vi bản án sơ thẩm, bị đơn đ c miễn nộp tiền t m ứng án phí phúc thẩm nên đ c xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về xác định quan hệ pháp luật: T i đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu hủy h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị đơn đ c Ph ng công chứng số 1, t nh Bình Thuận công chứng ngày 27/8/2015, hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn, căn cứ quy định pháp luật t i các iều 122, 127, 129 Bộ luật d n sự năm 2005. T i nội dung đơn khởi kiện, nguyên đơn nêu lý do yêu cầu T a án hủy h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất do nguyên đơn cho rằng việc chuy n nh ng quyền sử dụng đất theo h p đ ng công chứng ngày 27/8/2015 là giao dịch giả t o nhằm mục đích thế chấp quyền sử dụng đất của nguyên đơn cho bị đơn đ vay tiền. Nh vậy, ý chí của nguyên đơn th hiện yêu cầu T a án tuyên bố h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất vô hiệu do giả t o theo quy định t i iều 129 Bộ luật d n sự năm 2005. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp yêu cầu hủy h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là ch a đúng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, T a án cấp sơ thẩm đã áp dụng iều 129 Bộ luật d n sự năm 2005 đ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, cấp phúc thẩm ch điều ch nh l i quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” cho phù h p nội dung vụ án và quy định pháp luật.

[1.3] Về xác định ng ời tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, T a án cấp sơ thẩm mặc dù xem xét yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp cho bà Trần Thị Trinh, tuy nhiên không xác định cơ quan này là ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng quy định t i iều 34 Bộ luật tố tụng d n sự. Ngoài ra, t i h sơ vụ án th hiện việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền l i, nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Chi, Ng n hàng Nông nghiệp và phát tri n Nông thôn Việt Nam (chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận) nh ng cấp sơ thẩm không đ a ông Chi và Ngân hàng vào tham gia tố tụng trong vụ án với t cách là ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót. Quá trình giải quyết vụ án t i cấp phúc thẩm, Toà án đã có văn bản xác lập các đ ơng sự trên là ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan, đ ng thời các đ ơng sự không có ý kiến, khiếu n i gì, nhận thấy các sai sót trên cấp phúc thẩm có th khắc phục đ c, do đó cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[1.4] Về sự vắng mặt của ng ời tham gia tố tụng: ối với ng ời đ i diện h p pháp Sở Nông nghiệp và Môi tr ờng có tham gia phiên toà ngày 30/9/2025, tuy nhiên sau khi Toà án ng ng phiên toà đ thu thập chứng cứ thì đ i diện h p pháp Sở Nông nghiệp và Môi tr ờng có đơn xin xét xử vắng mặt; Ph ng công chứng số 2 L m ng vắng mặt nh ng có đơn xin xét xử vắng mặt; ông ỗ Văn Lo n có tham gia phiên toà ngày 30/9/2025, tuy nhiên t i phiên toà hôm nay vắng mặt, nh ng qua nội dung và diễn biến thực tế của vụ án thì có đủ cơ sở xác định ông Lo n ch có vai tr là ng ời làm chứng trong vụ án, không phải là ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan, nên sự vắng mặt của ông Lo n không ảnh h ởng đến việc giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm. Căn cứ iều 296 Bộ luật tố tụng d n sự, T a án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án, xét kháng cáo của bà Trần Thị Trinh và kháng nghị của Viện tr ởng Viện ki m sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam (nay là Viện ki m sát nh n d n khu vực 11 - L m ng), Hội đ ng xét xử xét thấy:

[2.1] ối với yêu cầu: Tuyên H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và bà Trần Thị Trinh đ c công chứng t i Phòng công chứng số 1 t nh Bình Thuận ngày 27/8/2015 là vô hiệu.

Căn cứ lời khai các đ ơng sự, ng ời làm chứng và tài liệu, chứng cứ thu thập t i h sơ, nhận thấy:

Bà Nguyễn Thị H nh, bà Trần Thị Trinh đều thừa nhận vào ngày 27/8/2015, sau khi bà Nguyễn Thị H nh và ông Trần Ngọc Tố ký H p đ ng huỷ bỏ H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà H nh và ông Tố đã ký ngày 12/5/2015, cùng ngày 27/8/2015, giữa bà Nguyễn Thị H nh, bà Trần Thị Trinh có lập H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất đ c Ph ng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận công chứng ngày 27/8/2015; theo H p đ ng, bà H nh chuy n nh ng cho bà Trinh các quyền sử dụng đất với giá ghi trên H p đ ng là 400.000.000 đ ng, các quyền sử dụng đất chuy n nh ng g m:

- Thửa đất số 17, 18, 108, 109, 110, 111, 88, 107 tờ bản đ 09, 08; địa ch thửa đất: xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận, diện tích 6.269m2, mục đích sử dụng đất lúa do Uỷ ban nh n d n huyện Hàm Thuận Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912 ngày 30/8/1999, cập nhật biến động ngày 15/12/2006, 06/11/2014;

- Thửa đất số 40, tờ bản đ số 09, địa ch Thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận; diện tích 672,0 m2 (300,0m2 đất ONT + CLN 372m2) do Uỷ ban nh n d n huyện Hàm Thuận Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078 ngày 05/12/2007, cập nhật biến động ngày 05/11/2014;

- Thửa đất số 104, tờ bản đ số 08, địa ch : Thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận; diện tích 5.488,0 m2 , đất tr ng c y l u năm do Uỷ ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391079 ngày 05/12/2007, cập nhật biến động ngày 05/11/2014.

Xét H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và bà Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015, nhận thấy:

Bà Trần Thị H nh là ng ời sử dụng đất h p pháp đối với các diện tích đất chuy n nh ng, h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà H nh, bà Trinh đ c lập thành văn bản có công chứng h p pháp theo đúng quy định về mặt hình thức theo quy định t i iều 689 BLDS năm 2005, iều 167 Luật ất đai năm 2013. T i H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất ngày 27/8/2015 th hiện việc giao kết h p đ ng là hoàn toàn tự nguyện, các bên giao kết h p đ ng có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, mục đích, nội dung h p đ ng không vi ph m pháp luật, không trái đ o đức xã hội, các bên tham gia giao kết h p đ ng đã đọc l i và đ ng ý nội dung h p đ ng.

Nh vậy, H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và bà Trần Thị Trinh đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận ngày 27/8/2015 đảm bảo điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định t i iều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 nên phát sinh hiệu lực đối với các bên tham gia ký kết theo quy định t i iều 405 Bộ luật dân sự năm 2005.

Bà Nguyễn Thị H nh cho rằng việc giao kết h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất với bà Trần Thị Trinh ch là đ thế chấp quyền sử dụng đất cho bà Trinh đ vay tiền. Tuy nhiên, bà H nh thừa nhận ngo i trừ thửa đất số 40, tờ bản đ số 09, diện tích đất 672,0m2 và tài sản trên đất là căn nhà bà H nh đang ở, thì các thửa đất chuy n nh ng c n l i (tổng diện tích 11.747m2) và tài sản trên đất có trụ thanh long thì bà Trinh đã quản lý sử dụng đất, x y dựng hàng rào bao quanh đất, mua l i ½ bình điện của ông M nh đầu t thanh long, bà Trinh sử dụng đ c 02 năm từ năm 2016 đến cuối năm 2017 thì bà H nh nghe có thông tin bà Trinh chuy n nh ng đất cho ng ời khác thì mới xảy ra tranh chấp. Lý giải việc bà Trinh quản lý, sử dụng các thửa đất tranh chấp khi thì bà H nh trình bày bà có bàn giao đất (trừ thửa đất 672,0 m2 có nhà trên đất) từ sau ngày hai bên ký h p đ ng chuy n nh ng đất 27/8/2015, khi thì cho rằng bà Trinh tự đến đầu t trên đất và việc bà Trinh quản lý sử dụng đất, đầu t trên đất mục đích ch đ bà Trinh canh tác thanh long lấy tiền trừ vào tiền lãi bà H nh phải trả cho bà Trinh nên bà H nh không phản đối. Tuy nhiên, bà Trinh cho rằng bà H nh trình bày không đúng mà thực tế sau ngày 27/8/2015 bà H nh đã giao đất trên thực địa cho bà, bà H nh cũng không cung cấp đ c tài liệu, chứng cứ chứng minh cho nội dung trình bày nêu trên của mình là có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Trinh xác định, ngày 03/01/2015, do cần tiền đ lo việc gia đình nên bà H nh đã đ ng ý chuy n nh ng cho bà Trinh diện tích 1.200m2 cùng hơn 120 trụ thanh long với số tiền 150.000.000 đ ng; theo bà H nh mô tả trong giấy chuy n nh ng thì bà Trinh xác định đ c diện tích đất này nằm trong tổng diện tích 6.269m2 thuộc các thửa 17, 18, 108, 109, 110, 111, 88, 107, đất đã đ c cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 90192, do Uỷ ban nh n d n huyện Hàm Thuận Nam cấp ngày 30/8/1999 đứng tên bà inh Thị Hoa, cập nhật biến động ngày 15/12/2006, ngày 06/11/2014, bà H nh c n cam kết nh ờng đ ờng cho bà Trinh đi vào đất. Hai bên lập giấy thỏa thuận chuy n nh ng đất, giấy này do bà H nh viết, các bên cùng thống nhất ký tên vào giấy. Việc thoả thuận chuy n nh ng đất c n có ông Huỳnh Văn Hiệp là tr ởng thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh chứng kiến và ký xác nhận vào giấy chuy n nh ng đất, bà H nh thừa nhận bà là ng ời viết và ký tên t i Giấy m n tiền ngày 18/8/2014 (BL 142), giấy thoả thuận chuy n nh ng đất ngày 03/01/2015 (BL 141); Giấy thoả thuận chuy n nh ng đất ngày 15/8/2015 (BL 140) nh trình bày của bà Trinh nên sự kiện này không phải chứng minh.

Bà Trinh trình bày trong thời gian bà Trinh liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền đ thực hiện thủ tục tách thửa diện tích đất 1.200 m² nhận chuy n nh ng theo giấy thoả thuận chuy n nh ng đất ngày 03/01/2015 thì bà H nh đã thế chấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912, số AL 391078 và số AL 391079 (trong đó bao g m diện tích đất 1.200 m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912 bà H nh đã chuy n nh ng cho bà Trinh) cho ông Trần Ngọc Tố đ vay số tiền 400.000.000 đ ng với lãi suất cao. Bà H nh đã đề nghị bà Trinh trả tiền cho ông Tố thay bà H nh số tiền 400.000.000 đ ng tiền gốc và 70.000.000 đ ng tiền lãi, tổng là 470.000.000 đ ng, bà H nh sẽ chuy n nh ng l i toàn bộ diện tích đất này sang bà Trinh. Nên ngày 15/8/2015, bà H nh tự viết giấy thỏa thuận chuy n nh ng đất t i nhà tr ởng thôn là ông Huỳnh Văn Hiệp, có lập Giấy thỏa thuận chuy n nh ng toàn bộ diện tích đất có thanh long với tổng diện tích 11.747m2 cho bà Trinh với giá 850.000.000 đ ng. Theo bà Trinh, đến ngày 15/8/2015, bà H nh còn n bà Trinh 200.000.000đ ng theo Giấy m n tiền do bà H nh viết và ký tên ngày 18/8/2014 nh ng ch a trả; 150.000.000 đ ng bà Trinh giao bà H nh đ nhận chuy n nh ng thửa đất 1.200m2 theo giấy thoả thuận chuy n nh ng đất ngày 03/01/2015 ch a làm thủ tục tách thửa; 30.000.000 đ ng bà Trinh nhiều lần cho bà H nh m n khi bà H nh gặp khó khăn, và cộng số tiền 470.000.000đ ng bà H nh sẽ trả cho ông Trần Ngọc Tố đ huỷ H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà H nh với ông Tố, tổng cộng 850.000.000đ ng nên hai bên thoả thuận giá chuy n nh ng 11.747m2 đất là 850.000.000đ ng, có bà H nh, bà Trinh, bà Hoa mẹ của bà H nh và ông Hiệp là Tr ởng thôn Dân Thuận ký tên. Nh vậy, có cơ sở xác định việc giao tiền các bên đã thực hiện tr ớc ngày 27/8/2015 (ngày các bên chính thức ký h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất đ c công chứng t i Phòng công chứng số 1 t nh Bình Thuận), bà H nh đã nhận của bà Trinh là 380.000.000 đ ng (850.000.000đ ng - 470.000.000đ ng) thông qua hình thức bù trừ vào tổng số tiền bà Trinh cho bà H nh vay và số tiền bà Trinh giao bà H nh đ nhận chuy n nh ng 1.200m2 đất tr ớc đó.

Ngày 27/8/2015, t i Ph ng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận, bà Trinh đã đ a cho ông Trần Ngọc Tố 470.000.000 đ ng đ ông Tố hủy h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà H nh và ông Tố ngày 12/5/2015. Bà H nh đã đ ng ý chuy n nh ng quyền sử dụng đất (tr ớc đó có ký h p đ ng chuy n nh ng cho ông Tố) cho bà Trinh với số tiền 850.000.000 đ ng.

Từ sau khi nhận chuy n nh ng quyền sử dụng đất từ bà H nh, bà Trinh đã nhận các thửa đất diện tích đất 11.747m2 trên thực địa (không bao g m diện tích đất của thửa 672,0m2 có nhà trên đất), canh tác thanh long trên đất, t o lập tài sản trên đất g m 01 hàng rào sau nhà bà H nh đang ở, khoan 01 giếng trên đất đ lấy n ớc t ới thanh long vào năm 2016, mua l i ½ công suất tr m biến áp 75 KVA của ông ỗ Văn M nh vào năm 2016 (theo biên bản giao nhận tài sản thi hành án lập ngày 16/9/2016; việc mua bán tr m biến áp có lập thành văn bản có xác nhận của UBND xã Hàm Th nh và công chứng của Văn ph ng Công chứng Tiến t) đ lấy điện phục vụ canh tác thanh long, thời gian này bà H nh cũng không có ý kiến phản đối hay khiếu n i gì; hiện các tài sản này vẫn c n trên đất.

Xét thấy, lời khai của bà Trinh phù h p với lời khai của ng ời làm chứng là ông Huỳnh Văn Hiệp, ông ỗ Văn M nh, ông Nguyễn Văn Thi và các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị H nh chuy n nh ng các quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Trinh theo h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận ngày 27/8/2015 là có thật. Bà Trinh và bà H nh đã thực hiện xong nghĩa vụ phát sinh theo quy định t i iều 699 đến iều 702 Bộ luật d n sự năm 2005, k cả việc giao nhận diện tích đất chuy n nh ng.

Bà H nh cho rằng bà ch vay bà Trinh số tiền 470.000.000đ ng đ trả cho ông Tố, việc bà Trinh tự lập H p đ ng chuy n nh ng, trên thực tế bà không có nhận khoản tiền nào khác của bà Trinh là không có căn cứ.

Bà H nh xác định bà có viết và ký giấy hẹn n ngày 12/9/2017 và bà đã nộp tài liệu này cho Toà án có nội dung “Tôi tên Nguyễn Thị Hạnh, sinh năm 1985, hộ hẩu thường trú: 168 Thôn Dân Thuận, xã Hàm Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận. Tôi có mượn của bà Trần Thị Trinh số tiền là 850.000.000đ gồm cả tiền ông Trần Ngọc Tố. Bà Trinh cho tôi hẹn lại đúng 1 năm trả hết số tiền cho Bà. Bà sẽ trả hết đất 10 quyển sổ đỏ tôi đã thế chấp” (BL 22). Theo nội dung trên, bà H nh cho rằng số tiền 850.000.000 đ ng trên ch là tiền vay, thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nh ng “giấy hẹn n ” này bà H nh viết sau ngày ký h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất, bà Trinh ch thừa nhận số tiền bà Trinh đã giao bà H nh 850.000.000 đ ng đ nhận chuy n nh ng quyền sử dụng đất 11.747m2 nh giấy thỏa thuận chuy n nh ng bà H nh viết ngày 15/8/2015 và H p đ ng chuy n nh ng ngày 27/8/2015. Nh vậy, có cơ sở xác định bà Trinh đã giao số tiền tổng cộng 850.000.000 đ ng cho bà H nh là có thật, bà H nh cho rằng số tiền 850.000.000 đ ng ch là tiền vay nh ng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận.

ng thời, tr ớc khi ký h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất ngày 27/8/2015 thì bà H nh đã 02 lần viết giấy tay thoả thuận chuy n nh ng quyền sử dụng đất cho bà Trinh (ngày 03/01/2015 và ngày 15/8/2015), cả hai lần đều có mẹ của bà H nh là bà Hoa và Thôn tr ởng thôn D n Thuận là ông Hiệp ký xác nhận, nếu bà H nh ch vay tiền bà Trinh và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì nội dung các giấy này không th nêu rõ diện tích, tứ cận, chừa đ ờng đi cho bà Trinh nh đã th hiện ở 02 giấy thoả thuận do bà H nh viết. Do vậy, việc bà H nh khai t i cấp phúc thẩm cho rằng bà ký h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất ngày 27/8/2025 là do bị bà Trinh ép buộc là không có căn cứ.

Về giá trị đất chuy n nh ng: Ngày 15/8/2015, bà H nh thoả thuận chuy n nh ng diện tích đất 11.747m2 trên đất có thanh long cho bà Trinh giá 850.000.000 đ ng; tuy nhiên ngày 27/8/2015 hai bên ký h p đ ng chuy n nh ng th hiện giá chuy n nh ng 400.000.000 đ ng, lý giải về việc chênh lệch giá, thì bà H nh và bà Trinh đều thừa nhận tr ớc đó bà H nh và ông Tố ký h p đ ng chuy n nh ng nội dung t ơng tự giá 400.000.000 đ ng nên sau khi bà H nh huỷ h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất với ông Tố đ ký h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất với bà Trinh thì ch thay đổi thông tin ng ời nhận chuy n nh ng, các nội dung khác giữ nguyên nên các bên cũng không thắc mắc về giá trên h p đ ng. Do đó, tr ờng h p này không phải bà H nh và bà Trinh cố ý đ a ra giá chuy n nh ng thấp hơn trên thực tế đ trốn thuế, nên H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất do bà H nh và Trinh ký ngày 27/8/2015 không vô hiệu về giá.

Quá trình giải quyết vụ án và t i phiên t a phúc thẩm, bà Trần Thị Trinh và bà Nguyễn Thị H nh đều xác định hai bên không giao dịch mua bán thửa số 40, tờ bản đ số 09 diện tích 672,0m2 thuộc Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AL 391078 và căn nhà trên thửa đất này, phù h p với giấy thoả thuận chuy n nh ng đất do bà H nh viết ngày 15/8/2015 diện tích chuy n nh ng 11.747m2, trên đất đã có 1.200 trụ thanh long, giá 850.000.000đ ng. Trên thực tế, bà H nh là ng ời đang quản lý, sử dụng thửa đất số 40 và toàn bộ tài sản trên đất từ tr ớc đến nay, bà Trinh không nhận bàn giao, không quản lý, sử dụng thửa đất này; do khi làm h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất thì bà Trần Thị Trinh và bà Nguyễn Thị H nh thoả thuận ch thay tên ông Trần Ngọc Tố t i H p đ ng ngày 12/5/2015 thành tên bà Trần Thị Trinh t i H p đ ng ngày 27/8/2015 chứ không ch nh sửa các nội dung khác của H p đ ng. Việc bà Trinh và bà H nh ký h p đ ng chuy n nh ng bao g m cả phần diện tích 672,0m2 là có sự nhầm lẫn, không đúng đối t ng chuy n nh ng theo ý chí của các bên. Do đó, phần 2 trong iều 1 của H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 với nội dung: chuyển nhượng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đồ số 09, diện tích 672,0m2 là vô hiệu do bị nhầm lẫn theo quy định t i iều 131 Bộ luật d n sự năm 2005. Tuy nhiên, thửa đất số 40 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078 không liên quan, việc huỷ nội dung chuy n nh ng thửa đất này cũng không ảnh h ởng đến giao dịch chuy n ch ng các thửa đất khác, do vậy, việc tuyên vô hiệu phần 2 iều 1 của H p đ ng nêu trên không làm ảnh h ởng đến những phần c n l i của h p đ ng nên h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 ch bị vô hiệu một phần theo quy định t i iều 135 Bộ luật d n sự năm 2015, iều 130 Bộ luật d n sự năm 2015, kháng nghị của Viện ki m sát nh n d n khu vực 11 - L m ng về nội dung này là có căn cứ.

[2.2] Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp cho bà Trần Thị Trinh:

Trên cơ sở h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất nêu trên, ngày 24/12/2015, bà Trần Thị Trinh đã đ c Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cụ th :

ối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912 do y ban nh n d n huyện Hàm Thuận Nam cấp ngày 30/8/1999 cho bà inh Thị Hoa g m các thửa đất (các thửa 17, 18, 124, 108, 107, 109, 110, 111, 88, 117) t i xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam; đ c cập nhật chuy n nh ng (thửa số 124, một phần thửa 108, thửa 117) cho bà Nguyễn Thị H nh, ông Lê Thành ông ngày 15/12/2006, cập nhật tặng cho bà Nguyễn Thị H nh ngày 06/11/2014 (diện tích 6269m2, loại đất lúa, gồm các thửa: thửa 17/1248m2; một phần thửa 108/845,0m2; thửa 107/560m2; thửa 110/640,0m2; thửa 109/976,0m2; thửa 18/1.296,0m2; thửa 88/384,0m2 và thửa 111/320,0m2): bà Trần Thị Trinh đã đ c cấp đổi theo 08 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số BX 008304 (thửa 90, diện tích 1.248,0m2); Số BX 008306 (thửa đất số 86, diện tích 845,0m)2; Số BX 008308 (thửa đất số 87, diện tích 560m2); Số BX 008196 (thửa đất số 93, diện tích 640,0m2); Số BX 008197 (thửa đất số 92, diện tích 976,0m2); Số BX 008198 (thửa đất số 91, diện tích 1.296,0m2); Số BX 008357 (thửa đất số 94, diện tích 384,0m2); Số BX 008358 (thửa đất số 95, diện tích 320,0m2). Các thửa đất nêu trên đều thuộc tờ bản đ số 26, địa ch : Thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận, lo i đất: đất tr ng lúa n ớc c n l i.

- ối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078 do Uỷ ban nh n d n huyện Hàm Thuận Nam cấp cho bà inh Thị Hoa ngày 05/12/2007, thửa đất số 40, tờ bản đ số 09, diện tích 672,0 m2, cập nhật biến động ngày 05/11/2014 tặng cho bà Nguyễn Thị H nh: bà Trần Thị Trinh đã đ c cấp đổi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008305, thửa đất 89, tờ bản đ số 26, diện tích 672,0m2 (đất ở 300m2, đất tr ng c y l u năm 372m2).

- ối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391079 do Uỷ ban nh n d n huyện Hàm Thuận Nam cấp ngày 05/12/2007 cho bà inh Thị Hoa: Thửa đất số 104, tờ bản đ số 08, diện tích 5.488,0 m2, cập nhật biến động ngày 05/11/2014 tặng cho bà Nguyễn Thị H nh: bà Trần Thị Trinh đã đ c cấp đổi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008303: thửa đất số 88, tờ bản đ 26, diện tích 5.488,0m2, đất tr ng c y l u năm.

Ngày 21/8/2018, bà Trần Thị Trinh ký h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất số công chứng số 2114, quy n số 02/TP/CC-SCC/H GD t i Văn ph ng công chứng Hàm Thuận Nam chuy n nh ng cho ông Nguyễn Văn Chi 09 thửa đất do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 24/12/2015 cho bà Trần Thị Trinh g m các thửa đất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BX 008303; BX 008358; BX 008357; BX 008198; BX 008197; BX 008196; BX 008308; BX 008306; BX 008304; Ngày 21/9/2018, Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam đã cập nhật chuy n nh ng cho ông Nguyễn Văn Chi t i các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên.

Ngày 08/10/2019, ông Nguyễn Văn Chi cùng bà Phan Thị Hằng (sinh năm 1975, địa ch : Thôn Phú Phong, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận) đã ký H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất số công chứng 002031, quy n số 03TP/CC-SCC/H GD do Văn ph ng Công chứng Trần Ngọc Du chứng nhận, chuy n nh ng l i 09 thửa đất nêu trên cho bà Trần Thị Trinh. Ngày 11/10/2019, Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai Hàm Thuận Nam đã cập nhật biến động chuy n nh ng cho bà Trần Thị Trinh trên 09 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên.

T i Công văn số 5629/STNMT-VP K ngày 10/10/2024 của Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận và t i phiên t a phúc thẩm ng ời đ i diện h p pháp của Sở Nông nghiệp và Môi tr ờng t nh L m ng là cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ của Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cũng xác định việc cấp đổi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Trinh là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Do đó, đủ cơ sở xác định bà Trinh đ c cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đối với các thửa đất nhận chuy n nh ng từ bà H nh là hoàn toàn h p pháp.

Việc bà Trần Thị Trinh ký H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Chi đ c Văn ph ng Công chứng Hàm Thuận Nam chứng nhận ngày 21/8/2018, cập nhật sang tên ông Nguyễn Văn Chi ngày 21/9/2018 và ông Chi, bà Hằng ký h p đ ng chuy n nh ng 09 thửa đất cho bà Trinh, cập nhật sang tên bà Trần Thị Trinh ngày 11/10/2019 là đúng trình tự, thủ tục, đ ng thời ông Chi cũng không có ý kiến, khiếu n i gì. Ngoài thửa đất có diện tích 672,0m2 trên đất có căn nhà của bà Nguyễn Thị H nh đang quản lý sử dụng, hiện nay trong 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Trần Thị Trinh đã thế chấp cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát tri n Nông thôn Việt Nam (Chi nhánh Hàm Mỹ - Bình Thuận) đ đảm bảo cho các khoản vay (khoản vay 200.000.000 đ ng và khoản vay 2.000.000.000 đ ng) thì có 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay bà H nh và bà Trinh đang tranh chấp g m 07 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BX 008306, BX 008196, BX 008197, BX 008308, BX 008198, BX 008304, BX 008303 (H p đ ng thế chấp quyền sử dụng đất số HMA308/H TC ngày 07/01/2025, thế chấp quyền sử dụng các thửa đất: số 88, 91, 90, tờ bản đ 26, g m các giấy chứng nhận BX 008198, BX 008304, BX 008303) và theo H p đ ng thế chấp HM 40/H TC ngày 04/6/2024, thế chấp các thửa đất 86, 92, 93, 87, tờ bản đ 26, g m các giấy chứng nhận BX 008306, BX 008197, BX 008196, BX 008308), Ng n hàng cũng không có ý kiến khiếu n i và trình bày trong tr ờng h p có tranh chấp Ng n hàng sẽ khởi kiện bằng vụ án d n sự khác nên việc Toà án cấp phúc thẩm bổ sung ng ời tham gia tố tụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tri n Nông thôn Việt Nam (Chi nhánh Hàm Mỹ Bình Thuận) là ng ời có quyền l i, nghĩa vụ liên quan vẫn đảm bảo quyền và l i ích h p pháp của đ ơng sự, đ ng thời khắc phục thiếu sót của Toà án cấp sơ thẩm.

[2.3] Từ những ph n tích trên, xét thấy, T a án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất đ c chứng thực ngày 27/8/2015 t i Ph ng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận là vô hiệu toàn bộ do giả t o; hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008303, số BX 008304, số BX 008305, số BX 008306, số BX 008308, số BX 008196, số BX 008197, số BX 008198, số BX 008357, số BX 008358 do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp cho bà Trần Thị Trinh ngày 24/12/2015 là không có căn cứ, không phù h p với các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định t i iều 34 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.4] Tuy nhiên, ngày 27/6/2025, Hội đ ng Thẩm phán T a án nh n d n tối cao ban hành Nghị quyết số 01/2025/NQ-H TP (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) t i iều 5 quy định Tòa án nhân dân khu vực đã có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ án hành chính nên có quyền hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, tuy bản án sơ thẩm có vi ph m về thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nh ng nội dung, bản chất vụ việc vẫn không thay đổi nên không cần hủy án của T a án cấp sơ thẩm.

[2.5] Trên cơ sở những nhận định, đánh giá trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Trinh là có căn cứ nên Hội đ ng xét xử phúc thẩm chấp nhận. ối với kháng nghị của Viện ki m sát nh n d n huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là Viện ki m sát nh n d n d n khu vực 11 – L m ng) và đề nghị của đ i diện Viện ki m sát nh n d n t nh L m ng, Hội đ ng xét xử chấp nhận một phần đối với nội dung tuyên vô hiệu H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận vô hiệu một phần, cụ th : phần 2 trong iều 1 của H p đ ng: chuy n nh ng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đ số 09, diện tích 672,0m2 và không cần thiết huỷ bản án sơ thẩm nh kháng nghị và đề nghị của đ i diện Viện ki m sát nh n d n t nh do các thiếu sót của Toà án cấp sơ thẩm đã đ c Toà án cấp phúc thẩm khắc phục. Do đó, Hội đ ng xét xử sửa Bản án sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 09/5/2025 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam theo h ớng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Tuyên h p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận vô hiệu một phần là phần 2 trong iều 1 của h p đ ng: chuyển nhượng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đồ số 09, diện tích 672,0m2; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008305 do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp ngày 24/12/2015 đứng tên bà Trần Thị Trinh đối với diện tích đất 672,0m2, thửa đất số 89, tờ bản đ số 26, tọa l c t i thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, t nh L m ng (địa ch cũ: thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận); là giấy chứng nhận đ c cấp đổi trên cơ sở H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất ngày 27/8/2015 đối với thửa đất số 40, tờ bản đ số 09, diện tích 672,0m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078; không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện c n l i của nguyên đơn.

[3] Các hậu quả pháp lý khác của giao dịch d n sự vô hiệu nêu trên, bà Nguyễn Thị H nh và bà Trần Thị Trinh không yêu cầu T a án cấp sơ thẩm giải quyết do đó không thuộc ph m vi giải quyết của cấp phúc thẩm. Tr ờng h p có tranh chấp phát sinh thì các bên có quyền khởi kiện đến T a án có thẩm quyền đ giải quyết trong vụ án khác.

[4] ối với nội dung Toà án cấp sơ thẩm tuyên t i phần quyết định của bản án sơ thẩm “Buộc bà Trần Thị Trinh phải trả l i các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912; số 391078 và số AL 391079 cho bà Nguyễn Thị H nh” là tuyên v t quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không đúng quy định của pháp luật nên cần rút kinh nghiệm.

[5] Về nghĩa vụ chịu án phí: Bà Trần Thị Trinh không phải chịu án phí d n sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị H nh phải chịu 300.000 đ ng án phí d n sự sơ thẩm.

[6] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định t i chỗ số tiền 2.000.000 đ ng (Hai triệu đồng), chi phí định giá tài sản số tiền 2.000.000 đ ng (Hai triệu đồng), tổng cộng là 4.000.000 đ ng (Bốn triệu đồng), nguyên đơn đã nộp đủ và tự nguyện chịu khoản tiền này nên Hội đ ng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 2 iều 308 Bộ luật Tố tụng d n sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2025);

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Trinh và chấp nhận một phần kháng nghị của Viện tr ởng Viện ki m sát nh n d n huyện Hàm Thuận Nam (nay là Viện ki m sát nh n d n khu vực 11 – L m ng).

Sửa Bản án d n sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 09/5/2025 của T a án nh n d n huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – L m ng).

[2] Áp dụng: iều 122, iều 127, iều 131 Bộ luật D n sự năm 2005; iều 26, khoản 1 iều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H nh.

- Tuyên bố: H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận vô hiệu một phần, cụ th : phần 2 trong iều 1 của H p đ ng: chuyển nhượng thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391078, thửa số 40, tờ bản đồ số 09, diện tích 672,0m2.

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008305 do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp ngày 24/12/2015 đứng tên bà Trần Thị Trinh đối với diện tích đất 672,0m2, thửa đất số 89, tờ bản đ số 26, tọa l c t i thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, t nh L m ng (địa ch cũ: thôn D n Thuận, xã Hàm Th nh, huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận).

- Bà Nguyễn Thị H nh có quyền liên hệ cơ quan nhà n ớc có thẩm quyền đ đ c cấp l i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 672,0m2 nêu trên theo quy định pháp luật.

2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H nh yêu cầu tuyên bố H p đ ng chuy n nh ng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H nh và Trần Thị Trinh ngày 27/8/2015 đ c công chứng t i Phòng Công chứng số 1 t nh Bình Thuận vô hiệu đối với nội dung chuy n nh ng các thửa đất c n l i của H p đ ng (phần 1 và phần 3 trong iều 1 của H p đ ng) g m:

- Thửa đất số 17; 18; 108; 109; 110; 111; 88; 107, tờ bản đ số 09; 08, diện tích 6.269m2 đ c Uỷ ban nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 901912 ngày 30/8/1999 cho bà inh Thị Hoa, cập nhật biến động ngày 15/12/2006 chuy n nh ng cho ông Lê Thành ông, bà Nguyễn Thị H nh (thửa 124/688 m2, 108/1.395 m2, 117/2.644 m2)và cập nhật biến động ngày 06/11/2014 tặng cho bà Nguyễn Thị H nh;

- Thửa đất số 104, tờ bản đ số 08, diện tích 5.488,0 m2 đ c Uỷ ban nh n dân huyện Hàm Thuận Nam cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 391079 ngày 05/12/2007 cho bà inh Thị Hoa, cập nhật biến động ngày 05/11/2014 tặng cho bà Nguyễn Thị H nh.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H nh yêu cầu T a án hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 008303, số BX 008304, số BX 008306, số BX 008308, số BX 008196, số BX 008197, số BX 008198, số BX 008357, số BX 008358 do Sở Tài nguyên và Môi tr ờng t nh Bình Thuận cấp ngày 24/12/2015 đứng tên bà Trần Thị Trinh, cập nhật chuy n nh ng ông Nguyễn Văn Chi ngày 21/9/2018, cập nhật chuy n nh ng bà Trần Thị Trinh ngày 11/10/2019.

[3] Về án phí:

Bà Nguyễn Thị H nh phải chịu 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) án phí d n sự sơ thẩm, nh ng đ c trừ số tiền 300.000 đ ng (Ba trăm nghìn đ ng) t m ứng án phí d n sự sơ thẩm mà bà H nh đã nộp theo biên lai số 003676 ngày 25/9/2019 của Chi cục Thi hành án d n sự huyện Hàm Thuận Nam, t nh Bình Thuận. Bà Nguyễn Thị H nh đã nộp đủ án phí d n sự sơ thẩm.

Bà Trần Thị Trinh không phải chịu án phí d n sự phúc thẩm.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định t i chỗ số tiền 2.000.000 đ ng (Hai triệu đồng), chi phí định giá tài sản số tiền 2.000.000 đ ng (Hai triệu đồng), tổng cộng là 4.000.000 đ ng (Bốn triệu đồng), nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp đủ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án (ngày 25/11/2025).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ