- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 344/2022/HS-PT Ngày: 22/8/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Các Thẩm phán:
1. Ông Trương Công Huấn.
2. Ông Ngô Đức Thụ.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số
275/2022/HSPT ngày 12/7/2022 đối với bị cáo Trần Văn D do có kháng cáo của
bị hại Trần Minh Khẩn đối với bản án hình sự sơ thẩm số 103/2022/HS-ST ngày
01/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo bị kháng cáo:
Trần Văn D, sinh năm 1989 tại Hậu Giang; nơi thường trú: ấp P, xã P,
huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc:
kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C
và bà Phạm Thị Yến Th; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ, tạm
giam ngày 02/6/2021 (có mặt).
Bị hại có kháng cáo: ông Trần Minh K, sinh năm 1991; trú tại: 63 ấp A, xã
V, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự: Luật sư Phan Bá
Lượng thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp cho bị hại Trần Minh K (có mặt).
Người làm chứng: Ông Nguyễn La P, năm sinh: 1986; trú tại: ấp L, xã T,
huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Trong vụ án này, còn có người làm chứng là bà Trần Thị Ánh T có liên
quan đến kháng cáo nhưng xét thấy không cần thiết phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn D có mượn Phạm Thanh Vũ số tiền 2.000.000 đồng, Vũ nhiều
lần gọi điện thoại yêu cầu trả tiền nhưng D hứa hẹn mà không trả. Vũ nói cho Trần Minh K là bạn của cả Vũ và D biết nên K đã tự ý trả nợ thay cho D nhưng không nói cho D biết. Sau đó, K gọi điện thoại cho D để đòi lại số tiền đã trả nợ thay nhưng không được nên nhắn tin chửi. Do bực tức nên khoảng 21 giờ ngày 01/6/2021, D gọi điện thoại hẹn gặp K tại ngã Năm, ấp Tam Đông 2, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn để nói chuyện. D lấy 01 ca nhựa (loại ca đựng nước) rồi rút trong bình xăng xe máy ra khoảng 01 lít xăng để vào ca nhựa, mang theo 01 bình gas mini, 01 cây sắt dài khoảng 2,5m, 01 hộp quẹt đi đến gặp K nhằm mục đích nếu không thỏa thuận được việc trả nợ thì sẽ dùng xăng đốt, dùng cây sắt đánh K. K điều khiển xe máy chạy đến trước nhà số 157/5P Phạm Thị Giây, ấp Tam Đông 2, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, thì gặp D. K dừng xe, tắt máy và vẫn ngồi trên xe máy, D đứng cách đầu xe máy của K khoảng 01 mét, hai bên xảy ra cãi nhau do không thống nhất được thời gian trả tiền. D lấy hộp quẹt bật lửa vào ca xăng đang cầm trên tay, thấy vậy, K liền xuống xe bỏ chạy, D cầm ca xăng đang cháy trên tay phải, tay trái cầm cây sắt chạy theo tạt ca xăng đang cháy vào người K từ phía sau lưng làm áo K bốc cháy. Thấy bên đường có vũng nước nên K cởi áo và nằm vùi xuống nước và lăn qua lăn lại. Bà Trần Thị Ánh Tuyết (nhà ở gần hiện trường) phát hiện nên dùng vòi nước xịt lên người K để dập lửa. Thấy vậy, D cầm cây sắt bỏ đi không tiếp tục tấn công K, K được người dân đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện Quận 12, sau đó chuyển đến Bệnh viện Xuyên Á. Ngày 02/6/2021, D đến Công an xã Thới Tam Thôn đầu thú và khai báo sự việc.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 640/TgT.21 ngày
03/8/2021 của Trung tâm pháp y- Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của anh Trần Minh K như sau: Bỏng nhiệt đã được điều trị, hiện còn các diện sẹo tăng giảm sắc tố ảnh, ảnh hưởng thẩm mỹ tại: vùng đầu mặt cổ; vùng lưng hông hai bên có kèm vết loét kích thước 11,5x6cm vùng hông phải; vùng cánh-cẳng-bàn tay hai bên; mặt sau cẳng chân hai bên. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 35%. Thương tích do bỏng nhiệt gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, model TA-1235, thu
giữ của Trần Văn D.
Về dân sự: ông Trần Minh K yêu cầu D bồi thường chi phí điều trị vết
thương và tổn thương sức khỏe, tinh thần với tổng số tiền 248.000.000 đồng.
Gia đình Trần Văn D đã bồi thường cho 39.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKS-HS ngày 21/3/2022, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Hóc Môn đã truy tố bị cáo Trần Văn D về tội: “Cố ý gây thương tích”
theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 103/2022/HS-ST ngày 01/6/2022 của Tòa
án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn D 08 (tám)
năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2021.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên giải quyết về trách nhiệm dân sự,
xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Văn D không kháng cáo.
Ngày 13/6/2022, ông Trần Minh K có đơn kháng cáo đối với bản án hình
sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn về tội danh và hình phạt đối
với bị cáo Trần Văn D, đề nghị xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo khoản 1
Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Văn D đã thừa nhận toàn bộ nội dung
sự việc, diễn biến các hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo
mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét vụ án một cách toàn diện, khách
quan và tuyên y án sơ thẩm để có điều kiện sửa chữa lỗi lầm, sớm thi hành án,
trở về gia đình, hòa nhập xã hội.
Bị hại Trần Minh K giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét bị cáo Trần Văn D có sự chuẩn bị và lên kế hoạch rõ ràng từ
trước, hung khí chuẩn bị sẵn là xăng, lửa và thanh sắt nhọn; khi gặp nhau, bị cáo
đã châm lửa và tạt vào nhiều nơi trên người khiến ông bị bỏng nặng, sau đó D
không dừng lại mà tiếp tục dùng thanh sắt nhọn để đâm nhằm tước đoạt tính
mạng của ông. Hậu quả ông bị thương tích với tỷ lệ 35%, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khỏe và khả năng lao động. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị
cáo Trần Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” với mức hình phạt 08 năm tù là
chưa đúng tội, đề nghị xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Người làm chứng Nguyễn La P thay đổi lời khai so với giai đoạn điều tra,
cho rằng: sau khi sự việc xảy ra thì bị cáo Trần Văn D có gọi điện cho P và nói
“Tao đốt cho thằng K chết luôn”.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh cho rằng:
Tại bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Trần Văn D 08 (tám) năm tù về
tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không kháng cáo, bị hại Trần Minh K kháng cáo trong thời gian hợp lệ.
Đối với kháng cáo của ông Trần Minh K cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét
xử bị cáo Trần Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” với mức hình phạt 08 năm tù là chưa đúng tội, đề nghị xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Kết quả điều tra và lời khai của bị cáo, bị hại đã xác định được bị cáo D trực tiếp cầm ca xăng, châm lửa đốt rồi mới hất về phía bị hại K, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào khoảng 21 giờ tối, bị hại nhìn thấy bị cáo đốt xăng và hoàn toàn có thể bỏ chạy và tri hô cứu giúp; sau khi tạt xăng bị cáo bỏ đi, không tiếp tục đuổi theo truy sát bị hại. Bị cáo không có ý thức tước đoạt tính mạng của bị hại. Do đó, kháng cáo của bị hại đề nghị xét xử bị cáo về tội giết người là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về phần hình phạt thì Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét, đánh giá nhân
thân cũng như tính chất mức độ, nguyên nhân và động cơ phạm tội của bị cáo và xử phạt bị cáo 08 năm tù là tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Minh Khẩn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
Bị cáo Trần Văn D không tranh luận.
Luật sư Phan Bá Lượng trình bày quan điểm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp cho bị hại Trần Minh Khẩn không đồng ý với bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn D về tội “Cố ý gây thương tích”. Bởi: lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra không trung thực, không khách quan, còn nhiều mâu thuẫn, có vi phạm tố tụng trong việc lấy lời khai người làm chứng. Bị cáo đã chuẩn bị nhiều hung khí là xăng, cây sắt dài 02m, 01 bình ga và 01 hộp quẹt trước khi đi gặp bị hại nên nếu nói mục đích chỉ để gây thương tích là không đúng. Lời khai của bị cáo không thống nhất chỉ nhằm biện hộ cho hành vi của mình. Việc bị hại K không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo, nếu không có vũng nước ở bên đường, không được cấp cứu kịp thời thì không biết hậu quả sẽ như thế nào, sau khi châm lửa đốt bị hại, bị cáo bỏ mặc hậu quả xảy ra cho thấy bị cáo cố ý tước đoạt tính mạng của bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm theo hướng tuyên xử bị cáo Trần Văn D phạm vào tội “Giết người” theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, bổ sung năm 2017.
Bị hại Trần Minh Khẩn đồng ý với bài bảo vệ của luật sư, không tranh
luận gì thêm.
Đối đáp lại quan điểm của luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị
hại, đại diện Viện kiểm sát bảo lưu quan điểm về tội danh đối với bị cáo. Quá
trình lấy lời khai đối với bị cáo, người làm chứng, cơ quan điều tra đã thực hiện
đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên ý kiến của luật sư
cho rằng có vi phạm tố tụng là không có căn cứ.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Trần Văn D thể hiện thái độ ăn năn
hối cải, mong Hội đồng xét xử y án sơ thẩm để bị cáo sớm thi hành án, trở về
gia đình, hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc
Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên, Tòa án
nhân dân huyện Hóc Môn, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi
lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung,
nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Trần Văn D đã thừa
nhận: khoảng 21 giờ ngày 01/6/2021 tại trước nhà số 157/5P Phạm Thị Giây, ấp
Tam Đông 2, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, chỉ vì mâu thuẫn trong vấn
đề nợ nần, bị cáo Trần Văn D đã lấy hộp quẹt bật lửa, châm vào ca nhựa đựng
xăng làm xăng bốc cháy và tạt vào phía sau lưng ông Trần Minh Khẩn gây
thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 35%. Thương
tích do bỏng nhiệt gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự. (Theo Kết
luận giám định pháp y về thương tích số 640/TgT.21 ngày 03/8/2021 của Trung
tâm pháp y- Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh).
Sau khi xử sơ thẩm bị cáo không kháng cáo.
Xét kháng cáo của bị hại Trần Minh K cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm
xét xử bị cáo Trần Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” với mức hình phạt 08
năm tù là chưa đúng tội, đề nghị xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo khoản 1
Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Việc bị cáo Trần Văn D dùng hung khí nguy hiểm là xăng đang cháy tạt
một lần vào phía sau lưng gây thương tích cho bị hại Trần Minh Khẩn với tỷ lệ
thương tật là 35%. Hội đồng xét xử xét thấy: trước khi tạt xăng, bị cáo và bị hại
đã xảy ra cự cãi, thời điểm xảy ra sự việc vào khoảng 21 giờ tối ngày 01/6/2021,
bị hại có nhìn thấy bị cáo mang theo xăng trước khi đốt, khi bị cáo châm lửa đốt thì bị hại cũng nhìn thấy và bỏ chạy, với thời gian chưa phải là đêm khuya và không gian bị cáo phạm tội ở khu vực đông dân cư, có thể được cấp cứu kịp thời; sau khi tạt xăng vào bị hại, bị cáo D cũng không có hành vi tiếp tục truy sát hay thực hiện các hành vi khác nhằm tước đoạt mạng sống của bị hại; các thương tích của bị hại do bỏng nhiệt gây ra theo kết luận giám định không nguy hiểm đến tính mạng.
Tại giai đoạn điều tra, người làm chứng Nguyễn La P khai: sau khi vụ án
xảy ra, bị cáo Trần Văn D có gọi điện cho P và nói “đốt cho bõ tức”, ngoài ra không nói gì thêm. Tại phiên tòa hôm nay, ông P thay đổi lời khai cho rằng bị cáo gọi điện cho ông nói “Tao đốt cho thằng K chết luôn”. Lời khai nại này của người làm chứng có thay đổi, không thống nhất. Bị cáo Trần Văn D không thừa nhận có gọi điện và nói với ông P nội dung trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để sử dụng lời khai của người làm chứng Nguyễn La P trong việc xem xét tội danh đối với bị cáo.
Với các căn cứ trên, xét không có cơ sở để xác định bị cáo Trần Văn D đã
phạm vào tội “Giết người”.
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn D phù hợp với lời khai của bị cáo
tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Trần Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp dùng hóa chất nguy hiểm và có tính chất côn đồ theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung kháng cáo của bị hại Trần Minh K đề nghị xét xử bị cáo Trần
Văn D về tội danh “Giết người” là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị xem xét lại hình phạt đối với bị
cáo Trần Văn D:
Bị cáo Trần Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá
trình điều tra và tại các phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 39.000.000 đồng; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là đúng quy định. Căn cứ vào nhân thân và tính chất, mức độ vi phạm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì mức án 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Trần Văn D mà tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là phù hợp.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
bị hại Trần Minh K cũng như lời đề nghị của luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị hại Trần Minh K phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Minh K, giữ nguyên bản án sơ
thẩm số 103/2022/HS-ST ngày 01/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn D 08 (tám)
năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2021.
Căn cứ quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình
sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội buộc bị hại Trần Minh K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng
án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - VKSND huyện Hóc Môn; (1) - CC THA huyện Hóc Môn; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (2) - TAND huyện Hóc Môn; (2) - Công an huyện Hóc Môn; (1) - Phòng PV06-CA TP.HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Sở tư pháp; (1) - Luật sư, đương sự; (2) - Lưu, hình sự, hồ sơ (23) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |