vanban.org

Bản án 344/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.

[1]. Anh Nguyễn Trọng H được ly hôn chị Trương Thị Hương S. [2]. Về con chung: có một con chung là Nguyễn Trọng Duy A, sinh ngày 17/9/2018. Giao anh Nguyễn Trọng H nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trọng Duy A, sinh ngày 17/9/2018 đến khi đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA VÌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 344/2022/HNGĐ-ST
Ngày 02/8/2022
“V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con’

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đoan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoan; Ông Nguyễn Xuân Thuật.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02/8/2022, tại Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 38/2022/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 2 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 29/6/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2022/QĐHPT ngày 15/7/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1991

Bị đơn: Chị Trương Thị Hương S, sinh năm 1992

HKTT: Thôn Thanh Lũng, xã TP, huyện BV, TP. Hà Nội

Anh H, chị S vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 14/02/2022, nguyên đơn anh Nguyễn Trọng H trình bày:

Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Trương Thị Hương S trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã TP, huyện BV ngày 16/5/2018. Sau kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ anh ở thôn Thanh Lũng, xã TP, huyện BV. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 1 năm thì anh vi phạm pháp luật, phải đi chấp hành án hình phạt tù. Chị S sống ở nhà đã không chung thủy, có quan hệ tình cảm với người khác rồi bỏ nhà đi từ tháng 5/2021 đến nay. Khi anh chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, anh cùng gia đình đã nhiều lần liên lạc khuyên nhủ chị S về chung sống để cùng nuôi con nhưng chị S nói chị không sống cùng anh nữa và đề nghị anh giải quyết ly hôn. Nay tình cảm không còn, anh xin ly hôn chị S.

Về con chung: Có một con chung là Nguyễn Trọng Duy A, sinh ngày 17/9/2018. Anh H có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành, không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công sức, nợ chung: Không có

*Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn chị Trương Thị Hương S đều không tham gia tố tụng.

* Tại biên bản xác minh ngày 24/3/2022, chính quyền địa phương xã Tiên Phong cung cấp thông tin: Anh Nguyễn Trọng H kết hôn hợp pháp với chị Trương Thị Hương S, đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiên Phong ngày 16/5/2018. Sau kết hôn, anh chị chung sống một nhà tại thôn Thanh Lũng, xã Tiên Phong. Trong thời gian chung sống anh chị không có biểu hiện mâu thuẫn gây mất an ninh trật tự hay xích mích gì cần chính quyền địa phương can thiệp. Khoảng cuối năm 2019 anh H bị bắt đi chấp hành án hình phạt tù, chị S sống cùng gia đình anh H đến tháng 5/2021 thì có thông tin chị S rời khỏi gia đình anh H đi làm ăn xa để lại con nhỏ cho gia đình anh H chăm sóc. Việc chị S làm gì, sinh sống ở đâu thì chính quyền địa phương không nắm được do chị S không khai báo. Khi anh H chấp hành xong hình phạt tù về địa phương cũng không thấy chị S về chung sống cùng anh H. Khi Tòa án nhân dân huyện Ba Vì niêm yết các văn bản tố tụng đối với chị S tại địa phương, thông qua số điện thoại liên lạc chị S sử dụng là xxxxxxxxxx, chị S cho biết chị đang ở Bắc Ninh nhưng địa chỉ cụ thể chị S không cung cấp, chị S thể hiện quan điểm là chị không về chung sống cùng anh H, cũng không về Tòa án nhân dân huyện Ba Vì tham gia tố tụng để giải quyết việc ly hôn. Chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh H, chị S có một con chung là cháu Nguyễn Trọng Duy A, sinh ngày 17/9/2018 hiện đang sống cùng anh Nguyễn Trọng H.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Địa phương không nắm được anh H, chị S có những gì. Tại địa phương anh chị không có tranh chấp với ai.

*Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và các yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Trọng H đối với bị đơn Trương Thị Hương S, Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xác định quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án là tranh chấp ly hôn, nuôi con; Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội theo quy định tại 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Anh H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị S được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do, do vậy Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điều 238 BLTTDS.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trọng H và chị Trương Thị Hương S kết hôn tự nguyện đăng ký tại UBND xã TP, huyện BV ngày 16/5/2018 là hôn nhân hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân, chị S tự ý bỏ đi là vi phạm nghĩa vụ chung sống theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật HN&GĐ. Anh H xin ly hôn, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị Trương Thị Hương S đều không tham gia tố tụng, không trình bày quan điểm giải quyết vụ án, chứng tỏ chị S không coi trọng quan hệ hôn nhân giữa chị và anh H. Xét anh chị không thể tiếp tục chung sống nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H đối với chị S.

Về con chung: Anh H, chị S có một con chung là cháu Nguyễn Trọng Duy A, sinh ngày 17/9/2018 hiên đang sống cùng anh Nguyễn Trọng H tại thôn Thanh Lũng, xã Tiên Phong. Anh H có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trọng Duy A, chị S không tham gia tố tụng, không đưa ra quan điểm về việc nuôi con và cấp dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chưa thành niên, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Trọng H về con chung, giao cháu Nguyễn Trọng Duy A cho anh Nguyễn Trọng H nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Anh H không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị S cho đến khi có yêu cầu hoặc thay đổi khác.

Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Anh H trình bày không có, chị S không đưa ra quan điểm trình bày nên chưa xem xét giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho anh H, chị S ở một vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Anh Nguyễn Trọng H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82,83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; Điều 227, 238, 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14. Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trọng H về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.

[1]. Anh Nguyễn Trọng H được ly hôn chị Trương Thị Hương S.

[2]. Về con chung: có một con chung là Nguyễn Trọng Duy A, sinh ngày 17/9/2018. Giao anh Nguyễn Trọng H nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trọng Duy A, sinh ngày 17/9/2018 đến khi đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trương Thị Hương S cho đến khi có yêu cầu hoặc thay đổi khác.

Chị Trương Thị Hương S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở

[3]. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Chưa giải quyết.

[4]. Về án phí: Anh Nguyễn Trọng H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp tại biên lai số: AA/2020/ 0059987 ngày 14/2/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

[5].Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hà Nội;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện;

- Người tham gia tố tụng;

- UBND xã Tiên Phong;

- THA dân sự;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Đoan Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hà Nội

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện

- Người tham gia tố tụng

- UBND xã Phú Phương.

- THA dân sự

Hoàng Trọng Đức

- Lưu hồ sơ CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Trọng Đức Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Hà Nội

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND huyện

- Người tham gia tố tụng

- UBND xã Phú Phương.

- THA dân sự

Hoàng Trọng Đức

- Lưu hồ sơ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

TÒA

Cỡ chữ