vanban.org

Bản án 344/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 03/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Đình K- Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 344/2021/HS-ST
Ngày 03 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Hoàng Thuận.

Ông Phan Minh Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 353/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 350/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Mai Đình K, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Thuận; nơi cƣ trú: Thôn 4, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn Đ (chết) và bà Võ Thị T; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 46/2014/HSST), chấp hành xong hình phạt ngày 03/11/2014; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà W, sinh năm 1973, nơi cƣ trú: Khu biệt thự cao cấp An Phú 36, phƣờng T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Ngọc C, sinh năm 1986, nơi cƣ trú: 109/9 khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Ông Võ Thành P, sinh năm 1967. Vắng mặt.

Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1969. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Mai Đình K là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy, không nghề nghiệp. Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/02/2021, K điều khiển xe mô tô biển số 36M6-1796 đi tìm kiếm tài sản chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài, khi đi đến đoạn đƣờng bờ bao sông Sài Gòn thuộc khu phố Trung, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An thì K nhìn thấy bà W (đang nghỉ dƣỡng cùng gia đình tại khu nghỉ dƣỡng An Lâm, khu phố Trung, phƣờng Vĩnh Phú) đạp xe đạp cùng con trai, trong túi quần phía sau bà W có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 256Gb, thấy vậy K điều khiển xe áp sát vào phía bên trái bà W đồng thời dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại rồi tăng tốc bỏ chạy thì bị bà W dùng chân đạp vào xe mô tô làm Khánh ngã xuống đƣờng. Khánh bỏ xe lại, cầm điện thoại bỏ chạy sau đó nhảy xuống khu bụi cây bên bờ sông Sài Gòn lẩn trốn. Bà Wee Sung San Michele tri hô thì đƣợc nhân viên khu nghỉ dƣỡng An Lâm chạy tới hỗ trợ, trình báo sự việc tới Công an phƣờng Vĩnh Phú. Nhận tin báo, Công an phƣờng Vĩnh Phú tới hiện trƣờng, phối hợp cùng lực lƣợng bảo vệ khu nghỉ dƣỡng An Lâm truy bắt Khánh. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì K bị lực lƣợng chức năng bắt giữ. Quá trình lẩn trốn, ẩn nấp K làm rơi điện thoại xuống sông. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/02/2021, do chiếc điện thoại của bà W có gắn định vị nên ông Phạm Văn T, là nhân viên khu nghỉ dƣỡng An Lâm lặn xuống sông và tìm đƣợc chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Promax 256Gb và trả lại cho bà W.

Biên bản và kết luận định giá tài sản ngày 17/2/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng kết luận: 01 điện thoại hiệu Iphone 12 Promax 256Gb có giá trị là 32.000.000 đồng.

Cáo trạng số 364/CT-VKSTA ngày 30/9/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Mai Đình K tội Cƣớp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã đƣợc thu hồi trả cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Mai Đình K mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi giao trả cho bị hại và bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên xin đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất để có điều kiện làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Đình K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và tài sản đã chiếm đoạt. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/02/2021, trên đƣờng bờ bao sông Sài Gòn thuộc khu phố Trung, phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, khi nhìn thấy bà W đang đi xe đạp trong túi quần phía sau bà W có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 256Gb trị giá 32.000.000 đồng thì K điều khiển xe mô tô biển số 36M6-1796 áp sát vào phía bên trái bà W đồng thời dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại rồi tăng tốc bỏ chạy. Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Cƣớp giật tài sản, bị cáo sử dụng xe môtô là nguồn nguy hiểm cao độ đang lƣu thông trên đƣờng cƣớp giật tài sản của bị hại có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại và những ngƣời khác đang tham gia lƣu thông trên đƣờng là phạm tội thuộc trƣờng hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm là tình tiết định khung theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Cƣớp giật tài sản theo điểm d khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của ngƣời khác một cách trái pháp luật, là nguy cơ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, ảnh hƣởng an ninh xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi sử dụng xe mô tô đang lƣu thông để cƣớp giật tài sản của bị hại là rất nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của họ, của chính bị cáo và những ngƣời khác, là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi, nên bị cáo cố ý phạm tội. Bị cáo có nhân xấu, là ngƣời nghiện ma túy, đã bị đã từng bị Tòa án có thẩm quyền đƣa ra xét xử nhƣng không lấy đó làm bài học để tự giáo dục, rèn luyện mà lại cố ý phạm tội là thể hiện coi thƣờng pháp luật nên cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả phạm tội đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi giao trả cho chủ sở hữu nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 256Gb trị giá 32.000.000 đồng đã đƣợc thu hồi giao trả cho chủ sở hữu, bị hại không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 36M6-1976 là phƣơng tiện mà bị cáo K sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định do ông Vũ Ngọc C đứng tên đăng ký xe. Ông C cho ông Đinh Minh H mƣợn xe để làm phƣơng tiện đi lại. Bị cáo khai ngày 14/2/2021 ông H cho K mƣợn lại chiếc xe, việc K dùng xe vào mục đích phạm tội thì ông H, ông C hoàn toàn không biết. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại xe này cho ông Vũ Ngọc C là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Mai Đình K phạm tội Cƣớp giật tài sản.

Xử phạt bị cáo Mai Đình K 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/02/2021.

2. Về án phí: Bị cáo Mai Đình K phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ngƣời vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án đƣợc giao hoặc niêm yết./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ