- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc H phạm tội Giả mạo trong công tác - phạm tội giả mạo trong công tác (điều 359 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Hữu Thùy T về trách nhiệm hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 343/2025/HS-PT Ngày: 22 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Minh;
Bà Hồ Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Anh, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Như Lạc - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 280/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Quốc H. Do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Võ Hữu Thùy T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (nay là tỉnh Khánh Hòa).
- Bị cáo bị kháng cáo:
Phạm Quốc H, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); nơi cư trú: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: khu phố B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường H, tỉnh Lâm Đồng); nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Hồng H1 và bà Võ Hữu Thùy T; có vợ là Ninh Thị Như Q và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án: không; tiền sự: không; Tạm giam: ngày 03/7/2024; Bị cáo đã chấp hành án xong, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Hữu Thùy T, sinh năm: 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: 11266 CI VITA ST L, Hoa Kỳ.
Nơi ở hiện tại: Số D đường V, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Hữu Thùy T: Ông Phan M; địa chỉ: G T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (nay phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/6/2017, bà Võ Hữu Thùy T thành lập Công ty TNHH Một thành viên N1 có địa chỉ tại: Lô Đ Cụm C, P.Đ, Tp . - T, tỉnh Ninh Thuận. Đến năm 2020 Công ty có nhu cầu vay vốn ngân hàng Phạm Quốc H (con trai bà T) đặt vấn đề nên chuyển đổi mô hình hoạt động của Công ty từ TNHH sang Công ty cổ phần để có thể thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh, vay vốn thuận lợi hơn. Bà T đồng ý chuyển đổi, đồng thời cho Phạm Quốc H và Phạm Ngọc Hồng N (con gái) là hai người con đứng tên cổ phần của Công ty. Ngày 08/9/2020 Công ty Đ thay đổi lần thứ 4 chuyển đổi từ Công ty TNHN1 Một thành viên thành Công ty Cổ phần N1 (CTCPNNCNC) Ninh Thuận, cổ đông góp vốn thành lập gồm 03 người, bà T là Giám đốc; Phạm Quốc H là Phó Giám đốc và bà Phạm Ngọc Hồng N là cổ đông. Tuy nhiên, thực tế toàn bộ số tiền của Công ty là của một mình bà T đầu tư, H và N không tham gia góp vốn.
Quá trình kinh doanh đến ngày 03/02/2021, bà T đi qua Mỹ sinh sống cùng người chồng thứ hai, trước khi đi không ủy quyền điều hành công việc cho H. Tuy nhiên, trong thời gian này mọi hoạt động của Công ty đều do H điều hành, trước khi bà T đi Mỹ, H có đưa cho bà T một tập giấy trắng loại A4 không có nội dung, đồng thời yêu cầu bà T ký vào các vị trí do H định sẵn. Tiếp đến tháng 4/2021, H tự ý giả chữ ký của bà T để làm hồ sơ thay đổi giấy phép kinh doanh lần thứ 5 của Công ty, nâng tỷ lệ góp vốn không có thật của các cổ đông lên, mục đích để H thay bà T lên vị trí Giám đốc, bà T xuống vị trí Phó Giám đốc. Việc này, bản thân bà T hoàn toàn không hay biết gì.
Trong năm 2021, bà T không thể về Việt Nam để điều hành Công ty do ảnh hưởng dịch Covid–19, lúc này bà T có gọi điện cho H để trao đổi và nắm được tình hình khó khăn, áp lực trả nợ của Công ty nên đã thống nhất nội dung tiến hành bán CTCPNNCNC Ninh Thuận. Do đó, bà T, đã đồng ý ký hợp đồng bán cổ phần với vai trò là cổ đông và Phó Giám đốc C. Tuy nhiên sau khi bán cổ phần Công ty X bà T cho rằng, H đã tự ý bán dây chuyền làm cốc nhựa, xe nâng máy dầu để chiếm đoạt 1.260.000.000đ và sau đó chiếm đoạt tiền bán nhiều thiết bị máy móc khác. Sau nhiều lần trao đổi không thống nhất được nên bà T đã làm đơn tố cáo toàn bộ hành vi nói trên của H đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N.
Tại bản Kết luận giám định số: 87/KL–KTHS với kết luận “Các chữ ký mang tên Võ Hữu Thùy T trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A8 so với chữ ký mang tên Võ Hữu Thùy T trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M6 Không phải do cùng một người ký ra”. Qua đó xác định chữ ký của bà T có trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp lần thứ 5 của C đã bị ký giả.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Quốc H thừa nhận việc giả mạo chữ ký của bà T để thực hiện hành vi giả mạo trong công tác, H không thừa nhận hành vi chiếm đoạt như nội dung đơn tố giác.
Quá trình điều tra xác định: H chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì hoạt động, thanh toán các khoản chi, trả nợ vay của Công ty nên H nắm rõ tình hình tài chính, các khoản nợ phải trả. Đối chiếu số tiền H bán máy móc, thiết bị đều dùng để trả nợ, chi trả cho các hoạt động của Công ty trong một thời gian dài (từ đầu năm 2021 – 2023), với nhiều tổ chức, cá nhân, với mục đích phục vụ cho hoạt động của Công ty. Qua đó, xác định H không có hành vi gian dối, không có ý thức chiếm đoạt. Đây là mối quan hệ dân sự giữa nội bộ các thành viên Công ty và trong làm ăn kinh tế của ba mẹ con bà T, H và N. (Bút lục số: 42, 550–551, 594–595, 654–656, 657–658, 665–667)
– Cáo trạng số 02/CT–VKS–P2 ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Phạm Quốc Huy về tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm c khoản 1 điều 359 Bộ luật hình sự.
– Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận giữ nguyên việc truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 359 của Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1,2 Điều 51, xử phạt bị cáo Phạm Quốc H từ 02 (hai) đến 03 (ba) năm tù.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (nay là tỉnh Khánh Hòa) quyết định:
1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 359; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
– Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Giả mạo trong công tác”.
– Xử phạt: Bị cáo Phạm Quốc H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam: ngày 03/7/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/3/2025, bà Võ Hữu Thùy T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại về hành vi phạm tội của bị cáo và đồng phạm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Hữu Thùy T - ông Phan M trình bày: Bị cáo H là người làm toàn bộ các thủ tục để chuyển đổi thành công ty cổ phần, thủ tục thành lập là giả mạo. Tài sản thực tế do mình bà T tạo lập, các khoản nợ trả về thì bị cáo H đã sử dụng, có những khoản nợ thực tế không phải nợ công ty mà là những khoản nợ nhỏ của bà T. Bà T và H thực tế là mẹ con, bà T không muốn con mình bị xử lý hình sự, bà chỉ yêu cầu về bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo về phần hình sự và yêu cầu bị cáo trả lại số tiền thiệt hại do hành vi giả mạo trong công tác của bị cáo.
Bị cáo Phạm Quốc H trình bày: Bị cáo không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà T, toàn bộ số tiền bị cáo bán thanh lý đều sử dụng vào mục đích trả nợ. Bị cáo không có khả năng bù đắp gì cho mẹ, bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp, để giải quyết yêu cầu bồi thường thì đề nghị bà T khởi kiện trong một vụ án dân sự độc lập.
Vị đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo về trách nhiệm hình sự của bà T, đối với yêu cầu bồi thường là không có cơ sở xem xét, bà T có quyền khởi kiện trong một vụ án dân sự độc lập để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, do đó cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết trong vụ án là có cơ sở, đúng quy định pháp luật. Đề nghị giữ nguyên bán án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (nay là tỉnh Khánh Hòa).
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Về tố tụng:
Về hình thức đơn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Võ Hữu Thùy T trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Hữu Thùy T thay đổi nội dung kháng cáo, bà T không kháng cáo về tội danh, bỏ lọt tội phạm trong vụ án mà chỉ đề nghị cấp phúc thẩm xem xét buộc bị cáo bồi thường cho bà T số tiền 1.464.124.550 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại đơn kháng cáo đề ngày 13/3/2025 của bà T có nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà T chỉ còn kháng cáo về yêu cầu bồi thường, việc thay đổi nội dung kháng cáo của bà T là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo về phần trách nhiệm hình sự của bà T.
Về nội dung:
Về tội danh, hình phạt:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định:
Phạm Quốc H là phó giám đốc Công ty cổ phần N1 đã có hành vi làm giả 02 chữ ký của bà Võ Hữu Thùy T giám đốc Công ty cổ phần N1 trên hai tài liệu trong hồ sơ đăng ký thay đổi giấy phép kinh doanh của Công ty lần thứ 5 vào tháng vào tháng 4 năm 2021, nhằm mục đích hoán đổi vị trí giữa bị cáo và bà T để bị cáo lên giữ chức vụ Giám đốc để điều hành công ty cổ phần N1 trong lúc bà T định cư ở nước ngoài vắng mặt tại công ty. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giả mạo trong công tác” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 359 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người đúng tội. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tuyên buộc bị cáo mức án 12 tháng tù là phù hợp, tương xứng với với mức độ của hành vi phạm tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo.
Xét kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Hữu Thùy T:
Bà Võ Hữu Thùy T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.464.124.550 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy đây là quan hệ tranh chấp dân sự giữa các thành viên trong công ty C1 phát sinh trong trình bán và thanh lý công ty. Vì vậy bà T có quyền khởi kiện trong một vụ án dân sự độc lập để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác ngoài những chứng cứ đã được cấp sơ thẩm đánh giá, xem xét vì vậy không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của bà T.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (nay là tỉnh Khánh Hòa) là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 342, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
1. Đình chỉ một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Hữu Thùy T về trách nhiệm hình sự.
2. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Hữu Thùy T.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 12/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận (nay là tỉnh Khánh Hòa).
Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc H phạm tội “Giả mạo trong công tác”
Áp dụng điểm c khoản 1, Điều 359; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm Quốc H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 03/7/2024 (Bị cáo đã chấp hành án xong).
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bà Võ Hữu Thùy T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 22 tháng 9 năm 2025).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; (1) - VCTVKSXXPT tại TP. Hồ Chí Minh; (1) - TAND tỉnh Khánh Hòa; (2) - VKSND tỉnh Khánh Hòa; (1) (1) - Công an tỉnh Khánh Hòa; - THADS tỉnh Khánh Hòa; (1) - Bị cáo; (1) - NCQLNVLQ; (1) - Lưu hồ sơ vụ án (3). VP 06, 18b. (LMA). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Văn Yên |