vanban.org

Bản án 343/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 13/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2023. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Toàn - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BH
TỈNH ĐN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 343/2023/HS-ST
Ngày 13 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BH-TỈNH ĐN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng.

Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN tham gia phiên tòa: Ông Phạm Như Nên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 314/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 349/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Minh T, sinh năm 1994, tại ĐN (có mặt); Nơi cư trú: Tổ 8, khu phố Long Khánh 1, phường TP, thành phố BH, tỉnh ĐN; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim X, sinh năm 1972; vợ Trần Thị Cẩm T2, sinh năm 1994; có 02 con, sinh năm 2015 và sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt theo quyết định truy nã chuyển giam từ ngày 04/01/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố BH.

- Bị hại: Anh Lê Văn M, sinh năm 1987 (có mặt).

Nơi đăng ký thường trú: Ấp Bửu Đông, xã LĐĐ, huyện ĐH, tỉnh BL.

Chổ ở hiện nay: Tổ 7, khu phố Thiên Bình, phường TP, thành phố BH, tỉnh ĐN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh T và chị Trần Thị Cẩm T2 là vợ chồng đều cư trú tại tổ 8, khu phố Long Khánh 1, phường TP, thành phố BH, tỉnh ĐN. Từ tháng 02 năm 2020, chị T2 quen biết với anh Lê Văn M, sinh năm 1987, đăng ký thường trú tại ấp Bửu Đông, xã LĐĐ, huyện ĐH, tỉnh BL qua mạng xã hội Facebook. Ngày 13/02/2020, anh M và chị T2 có nhắn tin qua lại rủ nhau đi chơi uống nước.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh M điều khiển xe mô tô biển số 94E1-370.27 đến đoạn đường hẻm thuộc tổ 8, khu phố Long Khánh 1, phường TP, thành phố BH, tỉnh ĐN và dừng xe lại để chờ đón chị T2 đi chơi. Lúc này, T đang ở nhà cùng chị T2 biết được anh M đang ở ngoài đường chờ đón chị T2 đi chơi nên phát sinh ghen tuông và đi ra ngoài đường tìm đánh anh M. Khi T đi bộ từ nhà ra thì thấy anh M đang ngồi trên xe mô tô gọi điện cho chị T2. Toàn nhặt 01 đoạn cây gỗ tràm hình tròn dài khoảng 01m, đường kính khoảng 03cm có sẵn ở ven đường xông vào đánh 01 cái trúng vào vai anh M làm rơi chiếc điện thoại của anh M. Anh M bỏ chạy thì T cầm cây đuổi theo. Lúc này, T thấy anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1989, ngụ tại tổ 4, khu phố Long Khánh 1, phường TP, thành phố BH, tỉnh ĐN vừa chạy xe mô tô tới, T nói anh Đ cho đi nhờ xe chạy đuổi theo hướng anh M bỏ chạy. Anh M bỏ chạy được khoảng 100 mét thì chạy vào khu vực bãi đất trống có cỏ mọc cao lẩn trốn. T cầm đoạn cây gỗ tràm tìm phát hiện thấy anh M đang trốn trong bãi cỏ. T tiếp tục cầm cây đánh nhiều cái trúng vào người anh M, anh M van xin và giơ hai tay lên đỡ thì bị T cầm cây đánh nhiều cái trúng vào cẳng tay trái, tay phải, đầu anh M gây thương tích gãy xương trụ phải, trái, vùng chẩm trái. Cùng lúc này anh Đ và mọi người khuyên can nên T bỏ đi. Anh M được gia đình đưa đến Bệnh viện Đại học Y Dược Shingmart ĐN cấp cứu, điều trị. Sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Hồng Phước, thành phố BH, tỉnh ĐN điều trị.

Sau khi đánh gây thương tích cho anh M thì T đã bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố BH khởi tố và ra Quyết định truy nã. Đến ngày 04/01/2023, Toàn bị Công an phường TP, thành phố BH bắt theo Quyết định truy nã. Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0175/TgT/2020 ngày 09/3/2020 của Giám định viên Trung tâm pháp y Sở y tế ĐN kết luận anh Lê Văn M bị thương tích như sau:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Tổn thương gãy xương trụ phải đã đóng đinh nội tủy. Tỷ lệ 12%.

- Tổn thương gãy xương trụ trái đã đóng đinh nội tủy. Tỷ lệ 12%.

- Sẹo vùng chẩm trái kích thước 03x0,4cm. Tỷ lệ 02%.

- Sẹo cẳng tay trái kích thước 07x0,4cm. Tỷ lệ 02%.

- Sẹo mổ khuỷu trái kích thước 0,5x0,5cm. Tỷ lệ 01%.

- Sẹo mặt sau khuỷu tay phải kích thước 4,8x0,3cm. Tỷ lệ 02%.

- Sẹo mổ khuỷu phải kích thước 01x01cm. Tỷ lệ 02%.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Văn M áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là: 29% (Hai mươi chín phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: vật tày”.

* Vật chứng vụ án: 01 đoạn cây gỗ hình tròn, dài khoảng 01 mét, đường kính 03cm, Nguyễn Minh T sử dụng đánh anh Lê Văn M gây thương tích. Sau khi gây án, T vứt mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Văn M yêu cầu Nguyễn Minh T bồi thường tiền điều trị thương tích và các yêu cầu khác là 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng). Hiện gia đình Nguyễn Minh T đã bồi thường cho bị hại Lê Văn M số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng).

Đối với chiếc điện thoại di động Samsung J7 của anh M do T dùng cây đánh anh M làm rơi bể vỡ màn hình, anh M khai sửa điện thoại với số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) và không yêu cầu T bồi thường.

Bản cáo trạng số: 327/CT-VKSBH ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố BH tuyên: Buộc bị cáo Nguyễn Minh T tiếp tục bồi thường chi phí điều trị thương tích và các yêu cầu khác cho bị hại anh Lê Văn M theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố BH, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, cáo trạng mô tả. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13/02/2020, tại đoạn đường hẻm và khu bãi đất trống thuộc tổ 8, khu phố Long Khánh 1, phường TP, thành phố BH, tỉnh ĐN, do ghen tuông về việc chị Trần Thị Cẩm T2 hẹn đi chơi uống nước với anh Lê Văn M nên bị cáo Nguyễn Minh T (chồng chị T2) có hành vi sử dụng 01 đoạn cây gỗ tràm hình tròn, dài 01 mét, đường kính 03cm đánh nhiều cái trúng vào tay trái, tay phải và đầu của anh M gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 29% (Hai mươi chín phần trăm).

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0175/TgT/2020 ngày 09/3/2020 của Giám định viên Trung tâm pháp y Sở y tế ĐN kết luận anh Lê Văn M bị thương tích: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Lê Văn M là: 29% (Hai mươi chín phần trăm).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo cố tình thực hiện tội phạm đến cùng quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tôt chưa có tiền án, tiền sự, đã bồi thường một phần chi phí điều trị cho bị hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại anh Lê Văn M yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh T bồi thường tiền điều trị thương tích và các yêu cầu khác là 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng). Hiện gia đình bị cáo Nguyễn Minh T đã bồi thường cho bị hại là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng).

Tại bản liệt kê chi phí điều trị ngày 12/7/2023 bị hại anh Lê Văn M yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh T bồi thường chi phí điều trị thương tích và các thiệt hại khác với tổng số tiền 78.000.000đồng. Cụ thể:

- Ngày 12/3/2020 nhập viện Bệnh viện Đại học Y dược Shing Mark 3.500.000đồng.

- Ngày 13/3/2020 nhập viện 10 ngày để mổ: 28.500.000đồng.

- 06 tháng sau nhập viện 04 ngày lấy đinh ra: 5.000.000đồng.

- Chi phí ăn uống: 5.000.000đồng.

- 06 tháng lương: 06 x 6.000.000đồng/tháng = 36.000.000đồng.

Tại phiên tòa bị hại anh Lê Văn M xác định chỉ yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh T bồi thường chi phí điều trị thương tích và các thiệt hại khác với tổng số tiền 70.000.000đồng (Bảy mươi triệu đồng). Trong quá trình điều tra gia đình bị cáo Nguyễn Minh T đã bồi thường cho bị hại Minh số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng). Bị hại anh M yêu cầu bị cáo T tiếp tục bồi thường cho bị hại Minh số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T đồng ý bồi thường cho bị hại Minh số tiền còn lại 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng). Nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh T khai, sau khi bị cáo T đánh anh M bỏ chạy thì gặp anh Phạm Văn Đ (hàng xóm của bị cáo T) chạy xe mô tô trên đường, bị cáo T nhờ anh Đ chở bị cáo T nhưng không nói cho anh Đ biết việc bị cáo T đi đánh nhau. Anh Đ khai, trên đường chạy xe mô tô về nhà có gặp bị cáo T, bị cáo T nhờ anh Đ chở đến khu đất trống thì bị cáo T xuống xe rồi Đ chạy xe về hướng ngược lại. Sau đó anh Đ quay lại chỗ bị cáo T thấy bị cáo T đang cầm cây đánh người thanh niên (không rõ lai lịch) thì anh Đ có can ngăn bị cáo T và chở bị cáo T về nhà. Anh M khai chỉ một mình bị cáo T cầm cây đánh anh M gây thương tích còn người thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe mô tô chở bị cáo T thì anh M không quan sát nên không rõ đặc điểm nhận dạng người này. Sau khi bị cáo T gây thương tích cho anh M, bị cáo T quay lại định đánh anh M tiếp thì người thanh niên trên can ngăn. Kết quả điều tra không đủ căn cứ xác định anh Đ đồng phạm với bị cáo T về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố BH không xử lý đối với anh Đ.

Đối với chiếc điện thoại di động Samsung J7 của anh M do bị cáo T dùng cây đánh anh M làm rơi bể vỡ màn hình, anh M khai sửa điện thoại với số tiền 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng) và không yêu cầu bị cáo T bồi thường.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Minh T bồi thường cho bị hại anh Lê Văn M số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ