- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hồng Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 343/2022/HS-PT Ngày: 22/8/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Các Thẩm phán:
1. Ông Trương Công Huấn.
2. Ông Ngô Đức Thụ.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Lê Viễn Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số
283/2022/HSPT ngày 12/7/2022 đối với bị cáo Lê Hồng Q do có kháng cáo của
bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 106/2022/HS-ST ngày 30/5/2022 của
Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Hồng Q, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú:
1A N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 5/12;
nghề nghiệp: chạy xe ôm; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc
tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Lê Thị Tuyết H; có vợ tên Nguyễn Thị
Hồng L và 02 con sinh năm 2006 và năm 2014; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo
tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa: Luật sư Bùi Thành Luật thuộc Đoàn luật sư Thành phố
Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Lê Hồng Q (có mặt).
Bị hại: Ông Đinh Nhật C; địa chỉ: Số 12 N, Phường A, quận G, Thành phố
Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 03 giờ 00 phút ngày 28/06/2020, sau khi đi nhậu về, Lê Hồng Q
tiếp tục điều khiển xe máy biển số: 60F2 – 920.27 đến Quán ốc vỉa hè, trước nhà số 139 N, Phường A, quận Gò Vấp. Tại đây, Q gọi 01 chai bia ra ngồi uống, lúc này Đinh Nhật C đang cùng với Bùi Tịnh Chiến và 04 người khác (không rõ họ tên) ngồi nhậu bàn bên cạnh, cách bàn Q khoảng 02m. Trong khi ngồi nhậu, C cùng bạn bè nói chuyện cười đùa với nhau nhưng Q cho rằng nhóm C cười Q không có tiền nhậu vì chỉ gọi 01 chai bia. Sau đó, Q gọi thêm 01 chai bia ra uống hết rồi tính tiền ra về. Khi về tới nhà, Q gọi điện thoại cho người thân ra mở cửa nhưng không ai nghe máy nên quay lại Quán ốc trên. Khi đến nơi, C còn ngồi nhậu, Q nói chủ quán cho Q nhậu thiếu ngày mai quay lại trả tiền nhưng chủ quán không đồng ý. Q nghĩ tới việc C lúc nãy khinh thường mình nên đã đi bộ đến phía sau lưng C đang ngồi, khi cách C khoảng 01m, Q dùng tay phải móc trong túi quần ra 01 con dao cán gỗ dài 17.5 cm, lưỡi dao dài 10cm, bản rộng 2cm có mũi sắc nhọn, cán gỗ dài 7,5cm, tiến lại gần và đâm C 02 nhát hướng từ trên xuống, trúng vào vai phải của C gây thương tích. Sau khi gây thương tích cho C, Q bị khống chế và giao cơ quan công an xử lý.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 446/TgT.21 ngày
25/5/2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của Đinh Nhật C như sau: Vết thương bả vai phải gây thủng đứt da, gãy xương bả vai. Vết thương vùng dưới bả vai phải, gây thủng đứt da, tràn khí, tràn máu, dập thùy dưới phổi. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 25%.
Hai vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra. Con dao như
bản ảnh quý cơ quan cung cấp có thể gây ra được các vết thương trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Hồng Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi
“Cố ý gây thương tích” như nêu trên, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Về phần dân sự: ngày 09/7/2020, Lê Hồng Q đã bồi thường, khắc phục
hậu quả cho Đinh Nhật C số tiền 30.000.000 đồng, ông C đã có đơn bãi nại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q.
Vật chứng của vụ án: 01 con dao cán gỗ dài 17.5 cm, lưỡi dao dài 10cm,
bản rộng 2cm có mũi sắc nhọn, cán gỗ dài 7,5cm, là hung khí gây án.
01 xe máy có biển số 60F2 - 920.27, số máy: VTTJL1P52FMH7006566,
số máy: RRKWCHSUM5X006566, thu giữ của bị cáo Q.
Tại bản cáo trạng số 84/Ctr-VKS ngày 28/04/2022, Viện Kiểm sát nhân
dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Lê Hồng Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 106/2022/HS-ST ngày 30/5/2022 của Tòa
án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Hồng Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo
Lê Hồng Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp
hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo theo luật định.
Ngày 01/6/2022, bị cáo Lê Hồng Q có đơn kháng cáo bản án hình sự sơ
thẩm của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp đề nghị giảm nhẹ hình phạt và cho bị
cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lê Hồng Q thừa nhận các
hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Bị cáo giữ nguyên nội dung
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với lý do đã thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; do thiếu hiểu biết pháp luật nên mới thực hiện
hành vi phạm tội; bị cáo đã bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ
hình phạt; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính đang phải nuôi
02 con nhỏ, mẹ đã lớn tuổi, thường xuyên ốm đau, bệnh tật.
Tại văn bản số 446-GT/TGT.21 ngày 15/8/2022 của Trung tâm giám định
pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã giải thích về thương tích của bị hại
Đinh Nhật C như sau: “Tỉ lệ tổn thương cơ thể đối với từng thương tích: vết
thương bả vai phải có tỉ lệ 09%, vết thương vùng dưới bả vai phải có tỉ lệ 18%.
Cộng hai tỉ lệ trên theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ ra tỉ lệ 25%.
Hai vết thương trên không nguy hiểm đến tính mạng đương sự”.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xét xử bị
cáo Lê Hồng Q về tội danh “Cố ý gây thương tích”. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo
kháng cáo trong thời hạn luật định. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm
trọng đã gây thương tích cho bị hại, phạm tội thuộc trường hợp dùng hung khí
nguy hiểm và có tính chất côn đồ theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự
năm 2015, sửa đổi năm 2017. Tại phiên tòa bị cáo mong muốn được hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do hoàn cảnh gia
đình khó khăn, bị cáo là lao động chính đang phải nuôi 02 con nhỏ, mẹ đã lớn
tuổi, thường xuyên ốm đau, bệnh tật có xác nhận của chính quyền địa phương.
Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng thêm cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặc dù, bị cáo có
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nhưng với tính chất, mức độ do hành
vi phạm tội của bị cáo gây ra thì mức án 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù mà Tòa án
cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Bùi Thành Luật trình bày bài bào chữa cho bị cáo Lê Hồng Q
không tranh luận về tội danh và khung hình phạt đã truy tố, xét xử với bị cáo.
Chỉ đề nghị Hội đồng xét xủ xem xét: bị cáo Q không có cha từ nhỏ, thiếu sự chăm sóc giáo dục, hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ nhưng bị cáo không phải là người côn đồ; bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 và tình tiết ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có công việc ổn định; bị cáo là lao động chính trong gia đình hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ già, 02 con nhỏ, vợ thường xuyên bị bệnh. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo Lê Hồng Q đồng ý với bài bào chữa của luật sư, không tranh luận
bổ sung.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Lê Hồng Q thể hiện sự ăn năn, hối
hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội được ở ngoài đi làm, nuôi dạy con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò
Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lê Hồng Q đã thừa
nhận hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể: khoảng 03 giờ 00 phút ngày 28/6/2020, tại Quán ốc vỉa hè, trước nhà số 139 N, Phường A, quận G, mặc dù không có mâu thuẫn gì nhưng Q đã dùng hung khí là 01 con dao cán gỗ dài 17.5 cm, lưỡi dao dài 10cm, bản rộng 2cm có mũi sắc nhọn, cán gỗ dài 7,5cm đâm ông Đinh Nhật C 02 nhát hướng từ trên xuống, trúng vào vai phải gây thương tích với tỷ lệ thương tật là 25%. Hai vết thương không nguy hiểm đến tính mạng. (Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 446/TgT.21 ngày 25/5/2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và văn bản số 446-GT/TGT.21 ngày 15/8/2022 của Trung tâm giám định pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh).
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan
điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Lê Hồng Q không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự và đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án,
tiền sự; đã bồi thường cho bị hại và được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt
theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê Hồng Q xin giảm nhẹ hình phạt và được
hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét cho bị cáo như kể trên, tại
phiên tòa hôm nay bị cáo có nộp thêm đơn xác nhận thể hiện bị cáo là lao động
chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đang phải nuôi 02 con nhỏ, mẹ đã
lớn tuổi, thường xuyên ốm đau, bệnh tật có xác nhận của chính quyền địa
phương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo khoản 2 Điều 51
Bộ luật hình sự nên áp dụng thêm cho bị cáo.
Tuy nhiên, xét bị hại Đinh Nhật C và bị cáo không có mâu thuẫn gì, nhưng
bị cáo đã có hành vi dùng hung khí là con dao cán gỗ dài 17.5 cm, lưỡi dao dài
10cm, bản rộng 2cm có mũi sắc nhọn, cán gỗ dài 7,5cm gây thương tích cho ông
C với tỷ lệ thương tật là 25%. Hành vi của bị cáo Lê Hồng Q là cố ý và nguy
hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo
vệ, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, phạm tội thuộc trường hợp có tính chất
côn đồ nên không có cơ sở cho bị cáo được hưởng án treo.
Mức án 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối
với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi
phạm tội bị cáo gây ra nên cũng không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt thêm cho
bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
bị cáo, không chấp nhận quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo, giữ nguyên
mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hồng Q, giữ nguyên hình phạt
của bản án sơ thẩm số 106/2022/HS-ST ngày 30/5/2022 của Tòa án nhân dân
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Hồng Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q Hội buộc bị cáo Lê Hồng Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - VKSND quận Gò Vấp; (1) - CC THA quận Gò Vấp; (1) - Bị cáo; (1) - TAND quận Gò Vấp; (2) - Công an quận Gò Vấp; (1) - Phòng PV06-CA TP.HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Sở tư pháp; (1) - Luật sư, đương sự; (3) - Lưu, hình sự, hồ sơ (22) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |