vanban.org

Bản án 343/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bình L.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Bình L được ly hôn với bà Nguyễn Thị T. Về con chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bình L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 343/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 02-12-2021
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒAÁN NHÂNDÂN QUẬN11, THÀNHPHỐHỒCHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Th m phán – Ch t a phiên t a: Ông Nguyễn Ngọc Hoài Các H i th m nh n d n: 1. Ông Nguyễn Thanh Tịnh. 2. Bà Phạm Quý Phượng. Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên. Trong ngày 02 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/10/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/11/2021, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bình L, sinh năm: 1956; địa chỉ: đường LLQ, Phường N, Quận XI, Thành phố H (có đơn xin xét xử vắng mặt). Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1959; địa chỉ: đường HHN, Phường H, Quận Quận XI, Thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện ngày 22/3/2021, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn là ông Nguyễn Bình L trình bày:

Ông Nguyễn Bình L và bà Nguyễn Thị T tự nguyện tìm hiểu, tổ chức đám cưới và về chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn từ năm 1976 cho đến nay.

Trong quá trình sống chung, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng do có nhiều khác biệt trong lối sống và suy nghĩ. Vợ chồng không có con chung nên tình cảm vợ chồng rất lạnh nhạt, mỗi người hiện đã có cuộc sống riêng và ở riêng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân nữa nên ông Nguyễn Bình L yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

Về con chung: Không có con chung.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn nhưng phía bị đơn đã không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến đối với phía bị đơn được.

* Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành trình tự tố tụng đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe đương sự có mặt tại phiên tòa trình bày, căn cứ vào nội dung tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Bình L khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bà Nguyễn Thị T nên đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị T cư trú tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Bình L có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 13/10/2021. Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ ngày 05/11/2021 và 08 giờ 00 ngày 03/12/2021, bà Nguyễn Thị T đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Bình L và bà Nguyễn Thị T tự tìm hiểu rồi tiến tới chung sống với nhau từ năm 1976 cho đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn và không có con chung. (Nội dung đã được Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 11 xác nhận theo Công văn số 281/UBND ngày 19/5/2021).

Theo quy định tại khoản 1, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) quy định về việc đăng ký kết hôn: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có th m quyền thực hiện theo quy định c a Luật này và pháp luật về h tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”; tuy nhiên tại điểm a, mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định như sau: "a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nh n và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn c a Luật hôn nh n và gia đình năm 2000”. Do đó, việc ông L và bà T có tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau từ năm 1976 cho đến nay mà không có đăng ký kết hôn nhưng vẫn được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình sống chung, vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng do có nhiều khác biệt trong lối sống và suy nghĩ. Vợ chồng không có con chung là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Mỗi người hiện đã có cuộc sống riêng và ở riêng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân nữa nên ông Nguyễn Bình L yêu cầu Tòa án cho ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân Gia đình: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên cuộc sống giữa ông L và bà T không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định hoãn phiên tòa cho bà T đến Tòa án để giải quyết tranh chấp ly hôn nhưng bà T cố tình vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi những vấn đề ông L yêu cầu đã được ghi trong thông báo thụ lý vụ án, chứng tỏ bà T không quan tâm cũng không thiết tha đoàn tụ gia đình. Việc ông L yêu cầu ly hôn với bà T là chính đáng; do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với bà T của ông L.

Về con chung: Ông Nguyễn Bình L khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Ông Nguyễn Bình L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Bình L.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Bình L được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

Về con chung: Nguyên đơn khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Bình L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0052804 ngày 02/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự đã nộp đủ án phí.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ