- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh P - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại chiếc xe; Điều 136 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 343/2017/HSST Ngày: 15/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Nhanh
2. Bà Lê Thị Nhung
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 475/2017/HSST ngày 24/8/2017 đối với các bị cáo:
Lê Thanh P; giới tính: Nam; sinh ngày 03/10/1973 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: đường HT, phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: chạy xe ôm; con ông Lê Văn T (chết) và bà Trần Thị H (chết); hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Trần Thị K và 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 19/9/1994, bị Tòa án nhân dân Quận P xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 185/HSST);
- Ngày 12/01/1998, bị Tòa án nhân dân Quận P xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 03/HSST);
- Ngày 11/5/2000, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (Bản án số 1348/HSST);
- Ngày 23/02/2004, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 236/HSST).
Tạm giam từ ngày 06/5/2017 (Có mặt). Người bị hại: Bà Cristianne Beltrão De L, sinh năm 1961 Quốc tịch: Brazil Địa chỉ: đường LTT, phường F, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Trần Thị K, sinh năm 1989. Trú tại: đường HT, phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt). 2. Bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1977 Trú tại: đường NVN, Phường V, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt). 3. Ông Ngô Minh T1, sinh năm 1973 Trú tại: đường ĐTP, Phường N, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt). 4. Bà Trương Thị Mỹ L, sinh năm 1979 Trú tại: khu phố 1, phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Bị cáo Lê Thanh P bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 06/5/2017, Lê Thanh P điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số: 59V2-241.65 đến trước góc đường HBT – LTT, phường H, Quận P thì thấy bà Cristianne Beltrão De L đang đi bộ cùng chồng là ông Luiz Antonio C (quốc tịch Brazil), trên tay có cầm chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6S plus màu hồng liền nảy sinh ý định cướp giật. P điều khiển xe chạy lên lề đường để áp sát và dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động trên tay bà Cristianne Beltrão De L, nhưng bị giằng lại làm chiếc điện thoại rơi xuống đất, P tăng ga xe mô tô bỏ chạy. Lúc này, các anh Nguyễn Võ Minh N, Nguyễn Thái D, Trần Đức M (là lực lượng Công an Quận P đang trên đường tuần tra) phát hiện và truy đuổi bắt giữ P giao cho công an phường H, Quận P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo P đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Vật chứng gồm:
- 01 điện thoại di động Iphone 6s plus, màu hồng, đã trả cho người bị hại;
- 01 nón bảo hiểm màu xám có dòng chữ G mobile;
- 01 nón kết màu nâu có chữ Nike;
- 01 áo khoác màu xám có chữ JPXSR;
- 01 điện thoại di động Mobell, màu đen, Imei: 810033600223058 và imei: 810034600223058;
- 01 xe hai bánh gắn máy hiệu Yamaha, số loại Nouvo, biển số 59V2-241.65, số khung: RLCN5P1109Y138178, số máy 5P11138178 thu giữ của Phú. Qua xác minh, chiếc xe trên do bà Huỳnh Thị Thu T đứng tên sở hữu. Bà T đã bán xe trên cho bà L-chủ cửa hàng mua bán xe Hoàng Tuấn. Vào ngày 15/6/2015, cửa hàng Hoàng Tuấn bán xe cho ông T1 chủ cửa hàng xe máy Ngô Minh T1. Ngày 26/9/2015, cửa hàng Ngô Minh T1 bán xe cho bà Trần Thị K (vợ của P), việc P sử dụng xe đi cướp giật, bà K không biết.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bà Cristianne Beltrão De L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 053/KLĐGTS ngày 13/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận P kết luận điện thoại Iphone 6s plus màu hồng có giá trị 7.233.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 344/CT-VKS- P2 ngày 21/8/2017 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thanh P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo P từ 04 đến 05 năm tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 06/5/2017 tại góc đường HBT– LTT, phường H, Quận P, bị cáo P điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 59V2-241.65 thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s plus màu hồng trị giá 7.233.000 đồng của bà Cristianne Beltrão De L thì bị bắt quả tang.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng tới trật tự an toàn xã hội. Bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện cướp giật tài sản đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, có thể gây nguy hiểm cho người bị hại và những người tham gia giao thông khác trong lúc tẩu thoát. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo P phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải có một bản án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe đối với bị cáo. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bà Cristianne Beltrão De L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động Iphone 6s plus, màu hồng, đã trả cho người bị hại theo Biên bản trao trả tang vật ngày 07/5/2017 nên Hội đồng xét xử không xét;
- 01 nón bảo hiểm màu xám có dòng chữ G mobile; 01 nón kết màu nâu có chữ Nike; 01 áo khoác màu xám có chữ JPXSR; 01 điện thoại di động Mobell, màu đen, Imei: 810033600223058 và imei: 810034600223058 là tài sản của bị cáo P, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo P;
- 01 xe hai bánh gắn máy hiệu Yamaha, số loại Nouvo, biển số 59V2-241.65, số khung: RLCN5P1109Y138178, số máy 5P11138178, do bà Huỳnh Thị Thu T đứng tên sở hữu và đã bán qua nhiều người. Những người có liên quan đều khai đã mua bán xong và không có yêu cầu gì đối với chiếc xe. Xét thấy bà K mua xe và sử dụng hợp pháp, bà K cho bị cáo P mượn sử dụng để chạy xe ôm và không biết P sử dụng đi cướp giật tài sản. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại chiếc xe trên cho bà K. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Áp dụng Điều 45; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2017.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: + Trả lại cho bị cáo Lê Thanh P: 01 nón bảo hiểm màu xám có dòng chữ G mobile; 01 nón kết màu nâu có chữ Nike; 01 áo khoác màu xám có chữ JPXSR; 01 điện thoại di động Mobell, màu đen, Imei: 810033600223058 và imei: 810034600223058; + Trả lại cho bà Trần Thị K: 01 xe hai bánh gắn máy hiệu Yamaha; số loại Nouvo; biển số 59V2-241.65, số khung: RLCN5P1109Y138178 (ghi theo số cà), số máy 5P11138178 (ghi theo số cà);
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 344/17 ngày 10/8/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Áp dụng Điều 98; khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lê Thanh P phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Áp dụng Điều 231; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Lê Thanh P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND Cấp cao (1) - VKSND Cấp cao tại TP.HCM (1) - VKSND TP. HCM; (3) - Cục THA DS; (2) - Sở Tư pháp; (1) - Trại giam; (2) - Bị cáo; (1) - Người bị hại; (1) - Người có QLNVLQ; (4) - THA HS; (1) - Phòng PC 53 - CA TP. HCM; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (23) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình |