- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Vĩnh N - phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (điều 356 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? X phạt bị cáo Đỗ Vĩnh N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lợi d ng chức v , quyền hạn trong khi thi hành c ng v ”. Thời hạn tù t nh từ ngày 08/12/2023.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h nh sự; Điều 3 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Bộ luật H nh sự trong x t x
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 342/2024/HS-ST Ngày: 17-7-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tất Năm
Ông Huỳnh Trường Sơn
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại tr s T a án nh n d n Thành phố Hồ Ch Minh m phiên t a x t x sơ th m c ng khai v án h nh sự sơ th m th lý số: 419/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa v án ra x t x số: 3476/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên t a số: 3765/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Vĩnh N; Sinh ngày 27 tháng 8 năm 1981 tại Thường trú: 83C1, đường A, khu phố D, phường L, thành phố T, Thành Phố Hồ Ch Minh; Tạm trú: Nhà kh ng số, đường D, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Ch Minh; Nghề nghiệp: Nguyên cán bộ C ng an Quận B (Đã tước danh hiệu C ng an nh n d n theo Quyết định kỷ luật cán bộ số 9739/QĐ-CATP ngày 08/12/2023 của C ng an Thành phố H; Tr nh độ học vấn: 12/12; Giới t nh: Nam; D n tộc: Kinh; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ng Đỗ Văn T và bà Phạm Thị Nguyệt N1; Bị cáo có vợ (đã ly h n) và 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Kh ng.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 08/12/2023– Có mặt.
Người bào chữa:
Ông Vũ Anh T1 là luật sư của Công ty L thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên t a, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Đỗ Vĩnh N là cán bộ C ng an quận B, Thành phố Hồ Ch Minh được trưng d ng làm c ng tác Quản giáo tại trại Tạm tạm giam C (T30), Công an Thành phố H. Từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2021, N được ph n c ng c ng tác tại Đội quản giáo số C, ph trách Gác 1 là khu giam giữ người bị kết án t h nh, trong đó có buồng 32B4 giam giữ người bị kết án t h nh Văn K nh Dương nên giữa N và D thỉnh thoảng có nói chuyện qua lại với nhau.
Đến tháng 02/2022, N chuyển c ng tác lên Gác 2 cũng là quản giáo khu giam giữ người bị kết án t h nh, nhưng kh ng ph trách buồng giam của Văn Kính D. Khoảng 07 giờ ngày 10/02/2022, N đi ngang qua buồng giam của Văn K D thì D gọi N lại và nhờ N giúp đưa điện thoại di động vào trại cho D s d ng. Sau đó, N đi về Gác 2 làm việc. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, lợi d ng lúc cán bộ quản giáo Gác 1 đi phát cơm, c a buồng giam m nên N đi vào buồng giam yêu cầu D đưa số điện thoại của người nhà D để N liên hệ, D đưa cho N tờ giấy ghi số điện thoại 0913572862 của người tên Q, địa chỉ G N, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội. N đi về ph ng nghỉ ph a ngoài khu trại tạm giam s d ng điện thoại gắn sim rác liên lạc với số điện thoại 0913572862 gặp một người nói giọng nam, N hỏi có phải người nhà của D hay không và nói D nhờ mua, đồ ăn, quần áo vào trại cho D, đối tượng trên nói sẽ g i đồ qua dịch v xe m c ng nghệ (G2).
Đến khoảng 11 giờ ngày 11/02/2022, tài xế chạy xe Grap đưa túi đồ đến trước cổng Trại tạm giam Chí H rồi gọi điện thoại cho N đi ra nhận một túi nylon màu đỏ đưa về ph ng nghỉ của N cất giữ. Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, N lấy túi nylon màu đỏ bỏ vào cốp xe gắn máy chạy vào trong khu giam giữ. Sau đó, lợi d ng thời điểm ph ng làm việc của Ban chỉ huy Đội quản giáo số 3 kh ng có người, N lấy chùm ch a khóa, m c a hành lang Gác 1 đến buồng giam của Văn K nh D đưa túi nylon màu đỏ trên cho D qua lỗ th ng gió ph a trên c a buồng giam. Sau đó, N khóa c a hành lang Gác 1, đi xuống ph ng làm việc của Ban chỉ huy Đội quản giáo số 3 để ch a khóa lại chỗ cũ rồi tiếp t c đi làm việc b nh thường.
Sau khi nhận được túi đồ do N đưa, D kiểm tra thấy bên trong có một số đồ ăn và một cái hộp giấy h nh chữ nhật dán băng keo bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 02 c c sạc, 01 tai nghe và 01 d y cắm sạc nên D đã s d ng chiếc điện thoại trên để liên lạc cho người th n và bạn bè bên ngoài.
Đến ngày 24/02/2022, Trại tạm giam Chí H thành lập tổ kiểm tra, l c soát đột xuất người, đồ vật của người bị tạm giam và phương tiện giam giữ tại các buồng giam th phát hiện thu giữ tại buồng giam của người bị kết án t h nh Văn Kính D cất giấu vật cấm là 01 chiếc điện thoại Iphone màu đen, 02 c c sạc dự ph ng, 01 tai nghe và 01 d y cắm sạc nêu trên.
Quá tr nh điều tra tại Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an Thành phố H, Đỗ Vĩnh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của Văn K nh D và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.
Tại Bản cáo trạng số: 320/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 28 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Ch Minh đã truy tố Đỗ Vĩnh N về tội: “Lợi d ng chức v , quyền hạn trong khi thi hành c ng v ” theo quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên t a:
- Bị cáo Đỗ Vĩnh N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Chỉ đề nghị xem x t bị cáo kh ng biết trong bịch đồ mà người nhà g i vào cho Văn K nh D có điện thoại di động.
- Đại diện Viện kiểm sát nh n d n thành phố Hồ Ch Minh trong phần tranh luận sau khi ph n t ch, đánh giá t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo g y ra, các t nh tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Đỗ Vĩnh N về tội: “Lợi d ng chức v , quyền hạn trong khi thi hành c ng v ”. Đồng thời đề nghị Hội đồng x t x :
+ Áp d ng khoản 1 Điều 356; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật h nh sự 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017,
X phạt bị cáo Đỗ Vĩnh N từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Lợi d ng chức v , quyền hạn trong khi thi hành c ng v ”.
Đồng thời, đề nghị x lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
- Luật sư Vũ Anh T1 bào chữa cho bị cáo Đỗ Vĩnh N trình bày: Luật sư đồng ý về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Luật sư chỉ đề nghị xem x t về ý thức của bị cáo kh ng biết trong túi đồ mà người nhà g i vào cho D có điện thoại di động, nên kh ng có ý thức cố ý thực hiện tội phạm. Sau khi nhận được điện thoại, D chỉ dùng để liên hệ với gia đ nh, bạn bè nên chưa g y ra hậu quả nghiêm trọng và bản th n bị cáo cũng kh ng nhận được bất kỳ lợi ch g từ D. Từ đó, luật sư đề nghị Hội đồng x t x cho hoãn phiên t a để N và D tiến hành đối chất nhằm xác định rõ ý thức của bị cáo. Trường hợp, Hội đồng x t x vẫn x t x v án, đề nghị xem x t áp d ng các t nh tiết giảm nhẹ bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có cha là ng Đỗ Văn T được tặng huy hiệu 40 năm tuổi đảng để áp d ng các quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017, quyết định h nh phạt mức kh i điểm và cho bị cáo được hư ng án treo.
- Bị cáo Đỗ Vĩnh N tự bào chữa: Đề nghị được đối chất với D để làm rõ nội dung bị cáo kh ng nhận lời đưa điện thoại vào buồng giam cho D s d ng mà chỉ giúp đưa đồ dùng người nhà g i vào cho D. Sau khi v án xảy ra, bị cáo vẫn được C ng an Thành phố trưng d ng tham gia hội thao cờ vua tại tỉnh Thừa Thiên Huế và đạt huy chương vàng cho Trại giam C, đề nghị Hội đồng x t x xem x t giảm nhẹ cho bị cáo.
- Viện kiểm sát tranh luận: Việc đề nghị đối chất giữa bị cáo và Văn K nh D là kh ng cần thiết, b i ngoài lời khai của D, lời khai của những người bị kết án t h nh khác tại trại giam cũng xác nhận bên trong túi đồ có điện thoại di động, ngoài s d ng cá nh n, D c n cho t tù khác s d ng điện thoại di động. Về t nh tiết bị cáo có thành t ch xuất sắc trong hội thao, cha là đảng viên được tặng danh hiệu 40 năm tuổi đảng, đề nghị Hội đồng x t x xem x t áp d ng t nh tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật h nh sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017). Về mức h nh phạt, cần có mức án nghiêm minh để răn đe, giáo d c bị cáo và ph ng ngừa chung cho xã hội nên kh ng có cơ s chấp nhận lời đề nghị của vị luật sư bào chữa cho bị cáo.
Kết thúc phần tranh luận, các bên đều bảo lưu quan điểm như đã tr nh bày.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ h nh phạt để sớm tr về với xã hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng x t x nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n Thành phố Hồ Ch Minh, kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, tr nh tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng h nh sự.
Quá tr nh điều tra và tại phiên t a, bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo đều tr nh bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, kh ng bị p cung, nh c h nh. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung, Hội đồng x t x đánh giá như sau: Qua th m tra x t hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Đỗ Vĩnh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, chỉ đề nghị xem x t bị cáo kh ng biết đồ g i vào cho D là có điện thoại di động. X t, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên t a được xác định phù hợp với nội dung biên bản khám x t buồng giam, biên bản thu giữ vật cấm trong buồng giam 32B4, biên bản kiểm tra dữ liệu điện t , cùng các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của v án. Hội đồng x t x có đủ cơ s kết luận:
Đỗ Vĩnh N là cán bộ C ng an quận B được C ng an Thành phố H trưng d ng, điều động về c ng tác tại Trại tạm giam C, C ng an Thành phố H từ ngày 18/7/2021 theo Quyết định số 880/QĐ-CATP của Giám đốc Công an Thành phố H và Quyết định số 100/QĐ-PC11A-Đ1 ngày 18/7/2021 của Giám thị Trại tạm giam C, C ng an Thành phố H. Từ ngày 01/10/2021 đến ngày 31/12/2021, N được Ban giám thị Trại tạm giam C1 phân công làm công tác quản giáo tại G, chịu trách nhiệm cấp phát các tiêu chu n, chế độ cho người bị kết án t h nh tại G, trong đó có buồng giam 32B4 của người bị kết án t h nh Văn K nh Dương. Trong khoảng thời gian này, D có nhiều lần trao đổi và nhờ N giúp đỡ đưa điện thoại vào để D liên lạc với gia đ nh nhưng N kh ng chấp nhận.
Đến ngày 10/02/2022, mặc dù N đã được Ban giám thị Trại tạm giam C1 ph n c ng làm c ng tác quản giáo tại Gác 2, kh ng ph trách buồng giam D nữa nhưng khi được D nhờ đưa đồ vào buồng giam th N đồng ý. Theo đó, D cung cấp số điện thoại 0913572862 đối tượng Q (kh ng rõ lai lịch) để N liên hệ người này g i đồ vào trại tạm giam cho D. Đến 18 giờ cùng ngày, N s d ng sim rác, gọi vào số điện thoại mà D cung cấp rồi yêu cầu người này g i quần áo, đồ ăn cho D th người này đồng ý và hẹn giao đến cổng trại tạm giam qua dịch v giao hàng G2. Đến khoảng 12 giờ ngày 11/02/2022, N nhận 01 túi nilon màu đỏ từ tài xế giao hàng G rồi mang về cất giấu tại ph ng nghỉ của m nh nằm ngoài khu giam giữ, khi kiểm tra túi đồ N thấy có đồ ăn, quần áo và 01 hộp giấy h nh chữ nhật được dán băng keo.
Đến 16 giờ 45 phút ngày 11/02/2022, N lấy túi nilon màu đỏ bỏ vào cốp xe và chạy vào khu giam giữ. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, lợi d ng lúc Ban chỉ huy Đội quản giáo Số 3 kh ng có mặt tại ph ng làm việc, N đã l n lút vào ph ng, m hộc tủ, lấy chùm ch a khóa m c a Gác 1, bước vào buồng giam 32B4 của D rồi đưa túi nilon màu đỏ cho D th ng qua lỗ ph n phát cơm trên c a. Sau đó, N khóa c a G1 1 lại và đi xuống, bỏ chùm ch a khóa lại chỗ cũ rồi đến chỗ làm việc của m nh tại Gác 2.
Sau khi nhận túi nilon từ N, D kiểm tra th thấy có 01 hộp giấy h nh chữ nhật được dán băng keo, m ra bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 02 c c sạc, 01 tai nghe và 01 d y cắm sạc. Tiếp đó, D đã s d ng điện thoại di động nêu trên để liên hệ với người th n, bạn bè của D.
Đến ngày 24/02/2022, Trại tạm giam Chí H tiến hành kiểm tra, l c soát đột xuất người, đồ vật của người bị tạm giam và phương tiện giam giữ theo Kế hoạch số 373/KH-PV11A-Đ1 th phát hiện và thu giữ của người bị kết án t h nh Văn K nh Dương tại buồng giam 32B4 01 điện thoại di động hiệu Iphone, 02 c c sạc, 01 tai nghe và 01 d y cắm sạc.
Tại văn bản số 4080/PC11A-Đ1 ngày 05/12/2023 của Trại tạm giam C, C ng an Thành phố H th hành vi nêu trên của Đỗ Vĩnh N đã làm ảnh hư ng đến uy t n của Trại, của ngành, nguy cơ mất an toàn giam giữ, g y ảnh hư ng xấu trong dư luận đối với các can phạm nh n trong việc chấp hành nội quy giam giữ và vai tr , trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm v của cán bộ quản giáo.
Căn cứ hướng dẫn tại khoản 4 Điều 2, khoản 6, khoản 8 Điều 3 Nghị quyết số: 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Th m phán T a án nh n d n tối cao hướng dẫn áp d ng một số quy định của Bộ luật H nh sự trong x t x tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức v th hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Vĩnh N đã phạm vào tội “Lợi d ng chức v , quyền hạn trong khi thi hành c ng v ”, tội phạm và h nh phạt quy định tại khoản 1 Điều 356 của Bộ luật H nh sự năm 2015 s a đổi, bổ sung năm 2017. Do hành vi phạm tội của bị cáo đã được xác định rõ nên Hội đồng x t x kh ng xem x t đề nghị của luật sư bào chữa cho rằng cần đối chất với Văn K D để làm rõ ý thức chủ quan của bị cáo.
Hội đồng x t x x t thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp x m phạm đến t nh đúng đắn của cơ quan quản lý Nhà nước về công tác giam giữ, làm suy yếu, mất niềm tin của nh n d n vào hoạt động giam giữ của Trại tạm giam C, ảnh hư ng nghiêm trọng đến uy t n của ngành C ng an, g y dư luận xấu trong nội bộ trại tạm giam và mất trật tự, trị an xã hội. Bản th n bị cáo là cán bộ c ng an nh n d n, được đào tạo cơ bản, có nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật giam giữ về việc tổ chức cho người bị tạm giam nhận quà của th n nh n nhưng nhằm củng cố uy t n của bản th n một cách kh ng ch nh đáng, bị cáo vẫn lợi d ng nhiệm v , quyền hạn của m nh để tự ý nhận đồ vật thuộc danh m c cấm từ người th n của người bị kết án t h nh Văn Kính D để đưa vào buồng giam cho D s d ng trái quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, Th ng tư số 32/2017/TT-BCA và Th ng tư 34/2017/TT-BCA ngày 19/9/2017 của Bộ C2, Quy chế 328/QC-PC1A-Đ1 ngày 21/4/2020 của Trại tạm giam Ch H a, g y thiệt hại đến lợi ch hợp pháp của Trại tạm giam Chí H, nên x t cần x phạt bị cáo một mức án nghiêm. Tuy nhiên, khi quyết định h nh phạt, Hội đồng x t x cũng c n nhắc, xem x t đến các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự và nh n th n của bị cáo.
Về t nh tiết giảm nhẹ: Quá tr nh điều tra, truy tố, x t x bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thành t ch xuất sắc trong lao động, c ng tác được Chủ tịch nước tặng thư ng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba năm 2006, Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nh năm 2014, Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, năm 2021 và có nhiều giấy khen của C ng an Thành phố H vì có thành t ch xuất sắc trong phong trào hội thao do Bộ C2 tổ chức, bị cáo có cha là ông Đỗ Văn T được tặng huy hiệu 40 năm tuổi đảng, nên được xem x t áp d ng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.
Về nh n th n: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên được coi là người có nh n th n tốt khi quyết định h nh phạt theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.
Với hành vi phạm tội, t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, t nh tiết tăng nặng, t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, nh n th n như đã nêu, Hội đồng x t x x t thấy cần áp d ng mức phạt tù trong khung h nh phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo d c, răn đe và ph ng ngừa chung.
Về x lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, 02 c c sạc dự phòng, 01 tai nghe, 01 d y cắm sạc thu giữ của Văn K nh D1, x t cần tịch thu, sung ng n sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus thu giữ của bị cáo Đỗ Vĩnh N là tài sản hợp pháp của bị cáo, kh ng liên quan đến tội phạm, x t cần trả lại cho bị cáo N.
Các lập luận nêu trên của Hội đồng x t x cũng là căn cứ chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên t a.
Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 356; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật h nh sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017,
X phạt bị cáo Đỗ Vĩnh N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lợi d ng chức v , quyền hạn trong khi thi hành c ng v ”. Thời hạn tù t nh từ ngày 08/12/2023.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật H nh sự năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố t ng h nh sự,
Tịch thu sung ng n sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen (thực nhận 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone, Imei khay sim: …73999, kh ng kiểm tra đời máy, I do kh ng có nguồn điện, kh ng kiểm tra t nh trạng máy móc bên trong), 02 c c sạc dự ph ng, 01 tai nghe (loại có d y), 01 d y cắm sạc.
Trả lại cho bị cáo Đỗ Vĩnh N: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus Plus (thực nhận 01 điện thoại di động hiệu Iphone Model A1687, kh ng kiểm tra đời máy, I do kh ng có nguồn điện, kh ng kiểm tra t nh trạng máy móc bên trong).
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK/2024/434 ngày 15 tháng 7 năm 2024 của C c Thi hành án d n sự Thành phố Hồ Ch Minh).
Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố t ng h nh sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội về án ph và lệ ph t a án;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngh n đồng) án ph h nh sự sơ th m.
Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố t ng h nh sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp Cao; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - C c THA DS TP. HCM; (1) - S tư pháp; (1) - Cơ quan điều tra; (1) - Trại tạm giam; (2) - Bị cáo; (1) - Người bào chữa; (1) - THA HS; (1) - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (3) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hƣơng Giang |