vanban.org

Bản án 342/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/06/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật Tố tụng dân sự;

thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Thùy L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 342/2019/HNGĐ – ST
Ngày: 25/06/2019
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Văn Quốc Trọng

Bà Tiêu Kim Thuận

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10,

Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 06 năm 2019 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 814/2018/TLST-HNGĐ ngày 12

tháng 12 năm 2018, về “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10

tháng 05 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên toà số: 47/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30

tháng 05 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đào Thị Thùy L – sinh năm: 1988 (có mặt)

Địa chỉ thường trú: 14B cư xá L, Phường X, Quận Y, TP.H

Địa chỉ liên hệ: 21 Nguyễn T, Phường H, quận P, TP.H

Bị đơn: Ông Gion Thành H, sinh năm: 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: 14B cư xá L, Phường X, Quận Z, TP.H

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 02/11/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn là bà Đào Thị Thùy Ltrình bày:

Bà Đào Thị Thùy L và ông Gion Thành H sống chung từ năm 2010, có đăng

ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 128, quyển số 01/2010 ngày

29/10/2010 của Ủy ban nhân dân phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà L và ông H có một người con chung tên Gion Thụy An N (Nữ), sinh ngày

21/11/2016.

Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016, nguyên nhân là do tính

tình và cách sống không hòa hợp. Ông H không có trách nhiệm gì với gia đình và đã

bỏ đi theo người khác cách đây khoảng 02 năm. Vợ chồng không có hạnh phúc,

không thể hàn gắn được nữa nên bà L yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Gion Thành

H.

Trường hợp ly hôn:

- Về con chung: Bà L nhận nuôi người con chung tên Gion Thụy An N và

không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà L và ông H không có tài sản chung.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà L xác định vợ chồng

không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.

* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt cho

ông Gion Thành H các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo hòa giải theo qui định tại các Điều 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông H không đến làm việc và hòa giải nên không ghi được ý kiến của ông H. Ngày 06/05/2019, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn là ông Gion Thành H đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia hòa giải lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

* Tại phiên tòa:

Bà L vẫn giữ nguyên quan điểm như trên và bổ sung:

Sau khi kết hôn, bà L và ông H sống chung cùng với anh chị em ông H tại nhà

số 14B cư xá L, Phường X, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh. Từ khi xảy ra mâu thuẫn bà L đã bỏ đi, ông H vẫn ở lại nhà nhưng thường xuyên vắng mặt. Ông H không cho bà L biết nơi ở nào khác của ông H nhưng thỉnh thoảng ông H vẫn liên lạc với bà L qua Zalo hoặc Messenger. Ông H biết việc bà L nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn và cũng đồng ý ly hôn với bà L. Ông H đã nhận được các giấy triệu tập của Tòa án do bà L gửi cho ông H qua Zalo và Messenger nhưng nhắn lại cho bà L là không đến làm việc, do đó đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

Ông Gion Thành H: Vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm

nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia các buổi làm việc, không tham gia phiên hòa giải là đã tự từ bỏ quyền trình bày và cung cấp chứng cứ của mình.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên

tòa, nhận thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà L được ly hôn với ông H; giao người con chung tên Gion Thụy An N cho bà L nuôi dưỡng.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa

và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của bà Đào Thị Thùy L, xác

định đây là vụ án dân sự về việc “Ly hôn”. Bị đơn cư trú tại Quận 10, Thành phố Hồ

Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo

quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của

Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ

án ra xét xử và triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai cho ông Gion Thành H

nhưng ông H vắng mặt, bà L cũng đã thông tin cho ông H biết thời gian mở phiên

tòa. Xét thấy việc ông H vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không phải vì sự kiện bất

khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông

Gion Thành H theo qui định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Đào Thị Thùy L và ông Gion Thành H chung sống từ năm 2010, có đăng

ký kết hôn đúng qui định nên hôn nhân của họ là hợp pháp.

Theo bà L thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016, nguyên nhân là do

tính tình và cách sống không hòa hợp, đã sống ly thân hơn 02 năm. Thời gian đã lâu

đến nay không còn tình cảm, không thể hàn gắn nên bà L yêu cầu giải quyết ly hôn

với ông H. Xét thấy cuộc sống chung không đem lại hạnh phúc cho bà L, mục đích

hôn nhân không đạt được, ông H không đến Tòa án để hòa giải chứng tỏ ông H cũng

không còn quan tâm đến cuộc sống chung. Vợ chồng không có sự quan tâm chia sẽ

gắn bó lẫn nhau, do đó Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm

sát nhân dân Quận 10 là chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà L được ly hôn

với ông H.

- Về con chung: Xét việc bà L nhận nuôi người con chung tên Gion Thụy An

N, xét thấy trẻ Nhiên còn nhỏ dưới 03 tuổi, bà L có đủ khả năng nuôi con nên chấp

nhận giao người con chung Gion Thụy An N cho bà L nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà

L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà L khai bà và ông H không có tài sản chung nên không

yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà L xác định bà L và ông

H không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên

không xét.

Về án phí: Bà Đào Thị Thùy L chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là

300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của

Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110,

Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Thùy L.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Thùy L được ly hôn với ông Gion Thành

H.

- Về con chung:

Giao người con chung tên Gion Thụy An N (Nữ), sinh ngày 21/11/2016 cho bà

Đào Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Gion Thành H vì bà L không có yêu cầu.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; nghĩa vụ,

quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng nuôi con theo qui định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về tài sản chung: Bà Đào Thị Thùy L không yêu cầu giải quyết nên Tòa án

không xét.

- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Đào Thị Thùy L xác

định vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, Tòa án không xét.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đào Thị Thùy L chịu án phí dân sự sơ thẩm số

tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số: AA/2018/0016590 ngày 15/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 , Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.

Bà Đào Thị Thùy L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án.

Ông Gion Thành H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày

được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ