- Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm giả tài liệu - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, xử:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự và cải treo; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 341/2024/HS-PT Ngày 12 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Mai Văn Quang Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đăng Phong
Ông Đinh Quốc Trí
- Thư ký phiên toà:
Bà Hoàng Thị Thu Thủy- Thư ký Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thu Hà - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 295/2024/HSPT ngày 15 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Tạ Mai L và Phan Thị Tr do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 253/2023/HSST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân quận X, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:
1. Tạ Mai L, sinh năm 2003, tại Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố Nhân Cầu 2, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; trú tại: Số 40, ngõ 12 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phương Liệt, quận X, Hà Nội; nghề nghiệp: sinh viên; giới tính: nữ; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Tạ Quang Th và bà Đinh Thị Ngọc M; tiền án, tiền sự: không; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
2. Phan Thị Tr, sinh năm 1999, tại Quảng Bình; hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn Tân Lộc, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: sinh viên; giới tính: nữ; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phan Xuân V và bà Trần Thị Ng; tiền án, tiền sự: không; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận X, Thành phố Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân quận X, Thành phố Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10h30' ngày 19/11/2022, tại Hội đồng thi đánh giá năng lực ngoại ngữ của Học viện An ninh Nhân dân (địa chỉ 119-121 Trần Phú, Hà Đông, Hà Nội) phát hiện thí sinh đăng ký dự thi dưới tên Dương Thị Tú A (sinh năm 1998; HKTT: Vân Hà, Đông Anh, Hà Nội) không tham dự thi mà người thi hộ là Tạ Mai L. Sau khi phát hiện sự việc, Hội đồng đã tiến hành lập biên bản vụ việc và bàn giao cho Công an quận Hà Đông để xử lý theo quy định.
Quá trình kiểm tra nơi ở của L tại số 40 ngõ 12 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phương Liệt, quận X, Hà Nội, Cơ quan Công an thu giữ: 01 thẻ sinh viên giả mang tên Phan Thị Tr và dán ảnh của L có dấu đỏ của trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp.
Qua đấu tranh, L khai nhận chiếc thẻ sinh viên là do L làm giả tại quán photo tại 60 Phan Đình Giót, phường Phương Liệt, quận X, Hà Nội để đi thi hộ cho Phan Thị Tr ngày 18/9/2022. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, ngày 20/11/2022, Công an quận Hà Đông đã chuyển hồ sơ cùng toàn bộ tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận X để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 9/2022, Phan Thị Tr có nhu cầu tìm người thi hộ chuẩn đầu ra tiếng anh tại Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Thông qua mạng xã hội, Tr biết tài khoản zalo tên “L NTN” đăng ký bằng số thuê bao 0862896813 của Tạ Mai L đăng tin nhận thi hộ tiếng anh. Tr sử dụng tài khoản zalo “Phan Thị Tr” đăng ký số thuê bao 0394705210 để trao đổi với L qua tài khoản zalo “L NTN” về việc: Ngày 18/9/2022, L sẽ đi thi hộ chứng chỉ tiếng Anh cho Phan Thị Tr tại trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp với chi phí 800.000 đồng. Đồng thời, Tr yêu cầu L gửi ảnh chân dung của L cho Tr để làm thẻ sinh viên giả. Sau khi nhận ảnh, Tr đã gửi thông tin cá nhân cùng ảnh chân dung của L cho tài khoản zalo “Thái Bình” để nhờ làm thẻ sinh viên giả. Sau đó tài khoản “Thái Bình” đã gửi lại cho Tr 01 tập tin ảnh thẻ sinh viên có thông tin cá nhân của Tr và có dấu đỏ của Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp đóng giáp lai ảnh của L. Tr chuyển tiếp tập tin này cho L bảo L đi in. Ngày 18/9/2022, L đến cửa hàng photocopy tại số 60 Phan Đình Giót, phường Phương Liệt, quận X, Hà Nội do anh Nguyễn Văn L1 làm chủ để in màu thẻ sinh viên nêu trên và sử dụng đi thi. Sau khi thi xong, ngày 19/9/2022, Tr đã thanh toán số tiền thi hộ và phí in thẻ sinh viên giá là 820.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản số 53110001477209 mở tại ngân hàng BIDV mang tên Phan Thị Tr đến tài khoản số 101884608092003 mở tại ngân hàng MBBank mang tên Tạ Mai L
Ngày 19/11/2022, Tạ Mai L tiếp tục đi thi hộ cho Dương Thị Tú A tại kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam do Học Viện An ninh nhân dân tổ chức thì bị phát hiện.
Tại bản Kết luận giám định số 8373 ngày 19/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Hình dấu tròn “TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHỆP” không đóng ra hình dấu tròn trên mẫu cần giám định (Thẻ sinh viên thu giữ của Tạ Mai L). Hình dấu trên mẫu cần giám định được tạo ra bằng phương pháp in màu kỹ thuật số.
Tại bản Kết luận giám định số 646 ngày 6/2/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự
- Công an thành phố Hà Nội kết luận:
Chữ viết phần thông tin thí sinh trên mẫu cần giám định (Bài thi chuẩn đầu ra Tiếng Anh mang tên thí sinh Phan Thị Tr so với chữ viết đứng tên Tạ Mai L là chữ do cùng một người viết ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 253/2023/HSST ngày 28/12/2023 của Tòa án nhân dân quận X, thành phố Hà Nội đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Tạ Mai L, Phan Thị Tr phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Tạ Mai L;
Xử phạt: Tạ Mai L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ bắt thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phan Thị Tr;
Xử phạt: Phan Thị Tr 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/01/2024, bị cáo Tạ Mai L và Phan Thị Tr có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 24/01/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có Quyết định kháng nghị số 04/QĐ-VKSHN đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và cải treo cho các bị cáo Tạ Mai L, Phan Thị Tr.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xem xét khoan hồng cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo và Quyết định kháng nghị trong hạn luật định nên hợp lệ đề nghị được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của các bị cáo, lời khai của những người liên quan, biên bản thu giữ tang vật, kết luận giám định tài liệu, chữ viết và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Tạ Mai L và Phan Thị Tr về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 Bộ luật hình sự năm 2015 và xử phạt mỗi bị cáo 6 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo, thấy: các bị cáo phạm tội có mức độ, làm giả 01 thẻ sinh viên, mục đích để thi hộ, kết quả thi hộ đã bị hủy. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, như: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo Phan Thị Tr có ông ngoại là người có công với cách mạng; nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đều có nơi cư trú, cụ thể rõ ràng. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng trừng phạt, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt 06 tháng tù của bản án sơ thẩm nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai của các bị cáo, lời khai của những người liên quan, biên bản thu giữ tang vật, kết luận giám định tài liệu, chữ viết và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/9/2022, do có nhu cầu thi hộ đầu ra tiếng Anh tại Trường đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp nên Phan Thị Tr đã liên hệ với Tạ Mai L để nhờ thi hộ. Để thực hiện công việc như thoả thuận, L gửi ảnh chân dung cho Tr để nhờ người làm giả thẻ sinh viên. Sau khi nhận được ảnh của L, Tr đã gửi ảnh cho một người sử dụng tài khoản zalo “Thái Bình” (hiện chưa xác định được) để ghép ảnh L vào thông tin cá nhân của Tr. Sau khi có được file ảnh thẻ sinh viên có in giả con dấu của Trường đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp, Tr chuyển tiếp cho L để L trực tiếp đi in tại cửa hàng photocopy số 60 Phan Đình Giót, phường Phương Liệt, quận X, Hà Nội. L sử dụng chiếc thẻ sinh viên giả nêu trên để thi hộ Tr ngày 18/9/2022 tại Trường đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp. Đến ngày 19/11/2022, L tiếp tục đi thi hộ cho Dương Thị Tú A tại Hội đồng thi đánh giá năng lực ngoại ngữ của Học viện An ninh Nhân dân thì bị phát hiện. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Tạ Mai L và Phan Thị Tr về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là đúng.
Xét kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu, gây ảnh hưởng đến chất L1, giáo dục đào tạo nói chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt mỗi bị cáo 6 tháng tù là cần thiết. Tuy nhiên, xét các bị cáo nhất thời phạm tội, phạm tội có mức độ (làm giả 01 thẻ sinh viên); các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo Phan Thị Tr có ông ngoại là người có công với cách mạng; nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú, cụ thể rõ ràng. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, xét thấy các bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng trừng phạt, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với những người lần đầu phạm tội, tạo điều kiện cho các bị cáo hoàn thành việc học tập. Từ nhận định trên, cần chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Tạ Mai L 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt: Phan Thị Tr 06 (sáu) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Ba Bồn, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Tạ Mai L, Phan Thị Tr không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 12/4/2024.
| Nơi nhận: - VKS nhân dân thành phố Hà Nội; - VKSND quận X, HN; - Công an quận X, HN; - TAND quận X, HN; - Chi cục THADS quận X, HN; - Bị cáo; - Lưu HSVA; VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Quang |