- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Võ Thị Ngọc M - Nguyễn H"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc M, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 211/2024/DS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 285 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 341/2025/DS-PT Ngày 25-6-2025 V/v “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Trúc;
Bà Trần Thị Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025,tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 167/2025/TLPT-DS về việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 211/2024/DS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩmsố 254/2025/QĐ-PT ngày 29/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 355/2025/QĐ-PT ngày 06/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc M, sinh năm 1978; địa chỉ thường trú: số nhà A, đường D, tổ F, khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Số E, ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Trọng T – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâmTrợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1963; địa chỉ: số nhà A, đường D, tổ F, khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Người kháng cáo: nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện nhận ngày 14/10/2024, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc M trình bày:
Bà M và ông Nguyễn H là vợ chồng, hiện đang tiến hành thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống giữa bà và ông H thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã, thậm chí xô xát dẫn đến thương tích. Cụ thể, vào khoảng ngày 17/8/2022 bà M xuống nơi ở của ông H (địa chỉ: khu phố D, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương) để giải quyết về vấn đề tiền bạc giữa bà và ông H. Sau khi xảy ra cãi vã, ông H đã dùng thanh gỗ tre dài khoảng 01m đánh vào nhiều vị trí trên người bà M (vùng đầu, cổ, sườn…). Ngay sau khi xảy ra sự việc, bà M đã đến Công an phường M trình báo, sự việc được công an phường M giải quyết nhưng kết quả thế nào thì bà M không nắm được.
Sau khi bị ông H đánh, bà M về ở tại nhà cha mẹ ruột tại huyện X, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên do di chứng của việc ông H đánh bà không có biểu hiện thuyên giảm nên ngày 22/8/2022, bà M đã đến Trung tâmy tế huyện X, tỉnh Đồng Nai để khám và điều trị. Tại đây,bà được yêu cầu điều trị nội trú thời gian khoảng gần 01 tháng thì được cho xuất viện. Tuy nhiên, sau khi về nhà thì vẫn không thấy thuyên giảm nên bà tiếp tục quay trở lại Trung tâm y tế huyện X tiếp tục điều trị nội trú. Tổng thời gian gần 60 ngày.
Sau khi được xuất viện, bà M tiếp tục đến Phòng khám V, tại địa chỉ E Sự V, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để thăm khám do có nhiều biểu hiện bất thường về sức khỏe. Tổng chi phí khám, điều trị cụ thể như sau:
+ Chi phí khám,chữa bệnh đợt 1 tại Trung tâm y tế huyện X, theo bảng kê chi phí khámbệnh, chữa bệnh nội trú đề ngày 25/8/2022 số tiền là 1.427.873 đồng.
+ Chi phí khám,chữa bệnh đợt 2 tại Trung tâm y tế huyện X, theo bảng kê chi phí khámbệnh, chữa bệnh nội trú đề ngày 05/9/2022 số tiền là 2.541.239 đồng.
+ Chi phí khám tại chi nhánh Công ty Cổ phần Y là 2.400.000 đồng (hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Tiền thuê xe 2.200.000 đồng (hai triệu hai trămnghìn đồng), khoản tiền thuê xe không có hóa đơn, hợp đồng để cung cấp cho tòa án.
Nay bà Võ Thị Ngọc M khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết, buộc ông Nguyễn H có nghĩa vụ bồi thường cho bà M số tiền 108.569.112 đồng. Trong đó, chi phí khám, điều trị là 6.369.112 đồng, chi phí thuê xe đi khám bệnh 2.200.000 đồng, bồi thường thiệt hại về tinh thần số tiền 100.000.000 đồng.
* Tại bản tự khai ngày 24/10/2024, bị đơn ông Nguyễn H trình bày:
Ông H xác nhận vào khoảng ngày 19/8/2022, giữa ông và bà M có xảy ra bất hòa, xô xát,ông có đánh bà gây thương tích và bà M đã đến điều trị tại Trung tâm y tế huyện X, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, sau khi bà M khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại tại Tòa án, bà M còn xuống công an phường M để tiếp tục yêu cầu bồi thường. Tại Công an phường M, ông và bà M đã tự nguyện thỏa thuận việc bồi thường vào ngày 05/7/2024. Theo đó, các bên thỏa thuận, ông H bồi thường cho bà M số tiền 5.000.000đ là chi phí điều trị và tổn thất tinh thần, bà M nhận đủ tiền và cam kết không khiếu nại, thắc mắc về sau và rút yêu cầu khởi kiện, Tòa án nhân dân thành phố B đã đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định. Nay bà M lại tiếp tục khởi kiện ông thì ông không đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M. Bên cạnh đó, theo ông H, bà M thường xuyên đến nơi ở của ông xúc phạm ông nên ông và gia đình rất bức xúc.
* Tại biên bản xác minh ngày 11/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, thực hiện tại Công an phường M thể hiện:
Ngày 05/10/2022 Công an phường M có tiếp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Ngọc M, yêu cầu ông H bồi thường do hành vi ông H đánh bà M xảy ra ngày 19/8/2022. Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) đã xử phạt vi phạm hành chính đối với ông H theo Quyết định số 2258/QĐ – XPHCngày 28/10/2022, ông H đã thực hiện xong. Về hình sự, do bà M không đề nghị giám định thương tích nên không có căn cứ xử lý đối với hành vi của ông H. Bên cạnh đó, ngày 05/7/2024, bà M tiếp tục đến Công an phường M đề nghị giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, xảy ra vào ngày 19/8/2022, công an phường M đã hòa giải (không lập biên bản), ông H, bà M tự thỏa thuận được mức bồi thường, bà M đồng ý nhận tiền và viết “Giấy nhận tiền” nộp cho Công an phường M.
* Tại Công văn số 121/GXN – TTYT ngày 22/11/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác nhận: Bệnh nhân Võ Thị Ngọc M, sinh năm 1978, địa chỉ: xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai có các lần điều trị tại đơn vị như sau:
1. Ngày 22/8/2022; mã y tế: 18027479; chẩn đoán: Đa tổn thương do bị đánh (bệnh nhân khai bị người khác đánh)/viêm xoang mạn; nội trú.
2. Ngày 28/8/2022; mã y tế: 18027479; chẩn đoán: Viêm phế quản; nội trú.
3. Ngày 08/11/2022; mã y tế: 18027479; chẩn đoán: Tiếp xúc với rắn độc và thằn lằn độc; chuyển viện…
Và 05 lần khác, phát sinh điều trị tại đây, 02 lần vào năm 2023 và 03 lần vào năm 2024.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông H bồi thường thiệt hại về tinh thần tổng số tiền là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), bồi thường thiệt hại do trong thời gian bà điều trị bệnh không canh tác được hoa màu, mất trộm tài sản, tuy nhiên bà chưa xác định rõ được mức thiệt hại cụ thể.
Tại Bản án số 211/2024/DS-ST ngày 18/12/2024 của TAND thành phố B đã quyết định: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc M về việc tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm với bị đơn ông Nguyễn H.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 27/12/2024 và ngày 14/01/2025, nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc M có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 211/2024/DS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M tổng cộng 108.569.112 đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng T trình bày: căn cứ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2258/QĐ – XPHC ngày 28/10/2022 của Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) xử phạt vi phạmhành chính đối với ông H vì có hành vi đánh gây thương tích cho bà M nên yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bà M là có căn cứ. Qua trình bày của các đương sự tại phiên tòa xét thấy lời trình bày của các bên còn chưa thống nhất với nhau, cần làm rõ. Đối với số tiền bồi thường 5.000.000 đồng là sự tự thỏa thuận của các đương sự, theo quy định Bộ luật Dân sự thì khi mức bồi thường không phù hợp thì đương sự có quyền yêu cầu bồi thường tiếp, căn cứ Điều 285, 290 BLDS đề nghị HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quyết định buộc ông H bồi thường với mức bồi thường phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của nguyên đơn được thực hiện trong thời hạn luật định, yêu cầu của nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn án phí nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: xét kháng cáo của nguyên đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ, nội dung của bản án không phù hợp với thực tế khách quan. Nguyên đơn phải nằm viện chữa trị tại Trung tâm y tế huyện X do theo hồ sơ bảo hiểm, nhưng khi ra viện thì hậu quả của hành vi đánh vào đầu làm bà M rất đau nhức, không lao động được, đến nay vẫn còn chữa trị, mua thuốc uống để giảm đau, tổn thất về tinh thần và tài sản rất nặng nề. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Qua nghiên cứu xem xét hồ sơ vụ án và trình bày của các bên đương sự có cơ sở xác định: vào ngày 19/8/2022 tại nhà bị đơn ông H đã có hành vi dùng một đoạn cây gỗ tre dài khoảng 1 mét đánh bà M gây thương tích một số vị trí trên người bà M. Bà M có đến trình báo Công an phường M và Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) B đã xử phạt vi phạm hành chính đối với ông H theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2258/QĐ – XPHC ngày 28/10/2022.
Ngày 22/8/2022, bà M có đến điều trị tại Trung tâm Y tế huyện X. Theo chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm thu thập được là hồ sơ bệnh án do Trung tâm y tế huyện X cung cấp tại giấy xác nhận số 121 ngày 22/11/2024 có nội dung: từ ngày 22/8/2022 đến ngày 30/10/2024 bà M đến khám điều trị bệnh tổng cộng 08 lần trong đó xác định ngày 22/8/2022 mã y tế 18027479 chuẩn đoán đa tổn thương do bị đánh (bệnh nhân khai bị người khác đánh)/ viêm xoang mạn. Lần thứ hai ngày 28/8/2022: Viêm phế quản. Lần thứ ba: ngày 08/11/2022: tiếp xúc rắn độc và thằn lằn độc. Lần thứ tư ngày 13/5/2023: nhiễm virus ở vị trí không xác định. Lần thứ năm: ngày 28/12/2023 viêm phế quản cấp. Lần thứ sáu: ngày 01/7/2024: loét dạ dày, tá tràng vị trí không đặc hiệu. Lần thứ bảy: ngày 28/10/2024 gãy đốt I ngón 4 tay trái/ tổn thương nông khác ở cổ tay và bàn tay (bút lục 108).
Theo kết quả bản tómtắt hồ sơ bệnh án (bút lục 109) ngày 20/11/2024: ngày 22/8/2022 vào viện, ngày 25/8/2022 ra viện đã xác định hướng điều trị và các chế độ tiếp theo: bệnh nhân ổn, cấp toa điều trị ngoại trú, tái khám theo lịch hẹn. Việc điều trị tại Trung tâm y tế huyện X từ ngày 22-25/8/2022 là có liên quan trực tiếp đến hành vi ông H đánh bà M gây thương tích ngày 19/8/2022; chi phí khám, chữa bệnh các ngày này là 1.427.873 đồng, trong đó quỹ Bảo hiểm y tế đã chi trả 1.142.298 đồng, bà M phải chi trả 285.575 đồng. Các lần khám chữa bệnh sau đó bao gồm các ngày 28/8/2022, 13/5/2023, 28/12/2023, ngày 01/7/2024 và ngày 28/10/2024 đều không liên quan đến sự việc ông H đánh bà M ngày 19/8/2022.
Theo phân tích nêu trên, có căn cứ xác định trách nhiệm của ông H phải trả chi phí điều trị cho bà M là 1.427.873 đồng, 01 tháng lương bồi thường tổn thất về tinh thần theo mức lương tối thiểu vùng 2.340.000 đồng, tổng cộng 3.767.873 đồng.
Xem xét chứng cứ ông Nguyễn H cung cấp là giấy nhận tiền ngày 05/7/2024 (Bút lục số 40) với nội dung “giao nhận tiền bồi thường chi phí nằm viện và tổn thất tinh thần do bị đánh vào ngày 19/8/2022 tại trước nhà số A, đường D, khu phố D, M, B, Bình Dương”, theo đó bà M yêu cầu bồi thường số tiền 5.000.000 đồng chi phí điều trị và tổn thất tinh thần do bị ông Nguyễn H đánh phải nằm viện để điều trị vào ngày 19/8/2022, ông H đồng ý bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bà M, bà M cam kết không thắc mắc, khiếu nại về sau; bà M đã ký tên, lăn tay và ghi đã nhận đủ số tiền 5.000.000 đồng.
Như vậy, số tiền bồi thường chi phí nằm viện điều trị và tổn thất tinh thần ngày 19/8/2022 đã được bà M và ông H tự thỏa thuận giải quyết và đã giải quyết xong vào ngày 05/7/2024 tại Văn phòng khu phố D, phường M. Số tiền bồi thường theo giấy nhận tiền ngày 05/7/2024 lớn hơn số tiền được chấp nhận theo phân tích nêu trên là đã có lợi cho bà M. Bà M khởi kiện cho rằng ông H đánh bà M để lại di chứng ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe của bà M nhưng bà M không cung cấp được chứng cứ chứng minh; các lần tái khám sau ngày 25/8/2022 của bà M là do nguyên nhân khác, không có nguyên nhân phát sinh từ hành vi ông H đánh gây thương tích cho bà M ngày 19/8/2022 nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà M là phù hợp quy định của pháp luật. Bà M kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà M, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí phúc thẩm: do yêu cầu khởi kiện của bà M thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bà M được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự 2015; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc M, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 211/2024/DS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương.
2. Về án phí phúc thẩm: Bà Võ Thị Ngọc M được miễn.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND thành phố B; - Chi cục THADS thành phố B; - Lưu: Tòa DS, HSVA, VTLT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Mai |