- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm vụ Đỗ Ngọc B - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đỗ Ngọc B phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI TP. HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 341/2023/HS - ST Ngày : 29/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Trần Thị Kim Cúc
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Bà Trần Thị Kim Dung
2. Ông Nguyễn Việt Anh
Thư ký phiên tòa:
Ông Trần Hải Minh
- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai
Đại diện VKSND quận Hoàng Mai - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Văn Sỹ - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 330/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 340/2023/QĐXXST - HS ngày 05/12/2023 đối với bị cáo:
Đỗ Ngọc B; Sinh năm: 1952; HKTT: phường C, quận B, Hà Nội; Nơi ở: phường C, quận B, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề Nghiệp: Tự do; Văn hóa: 07/10; Con ông: Đỗ Văn H, sinh năm 1925 (đã chết); con bà: Ngô Thị N, sinh năm 1927 (đã chết); Gia đình có 05 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Nguyễn Thị H – sinh năm 1956, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1977 và nhỏ nhất sinh năm 1986. Nhân thân: Bản án số 62-HS ngày 22/06/1974 Tòa án quân sự quân khu thủ đô xử 36 tháng tù giam về tội đào ngũ, trộm cắp tài sản, chấp hành án tại trại giam Nam Hà và được tha vào ngày 12/10/1976; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa.) * Người bị hại : Bà Phạm Thị Kim Y, sinh năm 1967 HKTT: phường V, quận H, Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Ngọc B làm nông nghiệp, nhưng thông qua quan hệ quen biết nhau trên nhóm Zalo, B chủ động liên lạc với bà Phạm Thị Kim Y (sinh năm 1967, trú tại: phường V, quận H, thành phố Hà Nội), tự giới thiệu B là Cục phó Cục điều tiết điện lực Bộ Công Thương, mục đích ban đầu là để bà Y tin tưởng tiến tới quan hệ yêu đương với B. Trong các cuộc nói chuyện B thường tạo vỏ bọc là một cán bộ cấp cao thường xuyên đi công tác, hội họp với nhiều lãnh đạo cấp cao của Nhà nước. Do đó, bà Y tin tưởng nhờ B giúp đỡ công việc liên quan đến tranh chấp đất đai tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Tuy không có chức năng nhiệm vụ gì nhưng B vẫn nhận lời lo giúp bà Y sau đó thông tin lại với bà Y là đã nhờ bạn thân của B là ông Hoàng Ngọc C, hiện là Vụ trưởng vụ 3 Viện kiểm sát nhân dân tối cao, giúp. Việc này B tự nghĩ ra, do trước đây B có học chung với ông C từ thời cấp 1 tại phường Cổ Nhuế 2, tuy sau không gặp gỡ liên hệ với nhau, B chỉ nghe nói ông C làm ở Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội. Tiếp đó ngày 29/12/2022, B sử dụng sim điện thoại 0967327482 gọi điện trực tiếp cho bà Y, giới thiệu là ông C chức vụ như trên và nhận lời giúp đỡ để bà Y tin tưởng B hơn. Sau đó ngày 31/12/2022, B gọi điện thoại hẹn bà Y đến quán cà phê “Nhất Long” ở Ki-ốt 345 CT5, Đơn Nguyên 2, đường Trần Nguyên Đán, phường Định Công, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, đem theo 10.000.000 đồng và dặn cho tiền vào phong bì dán kín, ký tên ở mép phong bì rồi đưa cho B lo việc giúp. Đến 20 giờ 30 phút ngày 31/12/2022, bà Y đem phong bì đựng 10.000.000 đồng đến địa chỉ trên đưa cho B. B cầm phong bì về nhà bóc lấy 10.000.000 đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi nhận tiền, B chủ động giãn dần việc nói chuyện với bà Y và nói sẽ trả lại tiền nếu không giúp được việc cho bà Y, rồi chặn số và Zalo để cắt liên lạc với bà Y. Sau khi không liên hệ được với B, bà Y nhờ bạn bè, người thân cùng đi tìm B. Đến ngày 16/4/2023, bà Y tìm được và gặp trực tiếp B tại khu vườn ở phường C, quận B, thành phố Hà Nội. B thừa nhận có nhận 10.000.000 đồng của bà Y và trực tiếp trả lại trước 5.000.000 đồng, còn lại sẽ trả sau nhưng sau đó B không liên lạc gì. Sau khi biết bà Y gửi đơn tố giác và được cơ quan công an triệu tập đến làm việc, B đã nhờ người nhà giúp trả cho bà Y số tiền 35.000.000 đồng, trong đó có 5.000.000 đồng còn thiếu và 30.000.000 đồng để khắc phục chi phí đi lại của bà Y khi phải đi tìm B. Sau khi nhận số tiền trên, bà Y không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác và yêu cầu xử lý ông B theo đúng quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, Đỗ Ngọc B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị can phù hợp với nội dung vụ án nêu trên, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 322/CT - VKS ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai đã truy tố bị cáo Đỗ Ngọc B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà: bị cáo Đỗ Ngọc B thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo là đúng, không oan, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo khai tự nguyện trả lại và bồi thường cho chị Y với tổng số tiền là 40.000.000 đồng. Bị cáo khai khi bà Y đến đòi tiền bị cáo, không có ai doạ đánh hay đánh bị cáo cả.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s, o khoản 1 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản, không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: ngày 31/12/2023, tại kiot 345 CT5 đơn nguyên 2, đường Trần Nguyên Đán, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội, Đỗ Ngọc B đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin không đúng sự thật để tạo niềm tin và sau đó chiếm đoạt của bà Phạm Thị Kim Y số tiền 10.000.000 đồng chi tiêu cá nhân, sau đó cắt đứt mọi liên lạc và không trả tiền cho bà Y.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân, do đó cần thiết phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự mới đủ giáo dục cho bị cáo.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: năm 1974 bị cáo đã bị Tòa án quân sự quân khu thủ đô xử 36 tháng tù giam về tội đào ngũ, trộm cắp tài sản, chấp hành án tại trại giam Nam Hà theo Bản án số 62-HS ngày 22/06/1974 và được tha vào ngày 12/10/1976. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử với vụ án này, bị cáo đã khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả, bị cáo cũng là người cao tuổi nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, o, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét tiền án của bị cáo đã xoá và thời gian đã lâu nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam với bị cáo mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ sức giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về phần dân sự và các vấn đề khác : Bị hại đã nhận tài sản, không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 174 ; điểm b, s, o khoản 1 Điều 51 ; điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ: Điều 106, điều 136; điều 331; điều 333 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I Danh mục án phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Đỗ Ngọc B phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Xử phạt: Đỗ Ngọc B 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 (hai tư) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về UBND phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội quản lý giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung : Miễn phạt tiền cho bị cáo.
Trách nhiệm dân sự : Bị hại đã nhận tài sản, không yêu cầu nên không xem xét.
Xử lý vật chứng: không
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANTPHN,VKSNDTPHN - Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Công an quận Hoàng Mai , TP Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, TP Hà Nội; - Bị cáo. - Lưu VP; HS án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Cúc Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |