- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 341/2022/HS-ST Ngày: 23 – 12 – 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐTHUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng.
2/ Bà Lê Thị Thiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 353/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 357/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
L, sinh năm 1997 tại tỉnh Nghệ An; nơi cƣ trú: Xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T, sinh năm 1972 và bà Đ, sinh năm 1975; bị cáo chƣa có vợ, con;
Tiền án: Ngày 21/4/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2015/HS-ST, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2017 theo Giấy xác nhận số 1376/CV-TGS3 (GD) ngày 20/9/2022 của Trại giam số 3 (Bộ Công an), đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, chƣa chấp hành xong nghĩa vụ bồi thƣờng dân sự tại bản án.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/5/2011, bị Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Nghệ An ra quyết định số 2133/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng trong thời hạn 12 tháng, ngày 30/4/2012 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 8 năm 2022 cho đến nay.
Bị cáo có yêu cầu xét xử vắng mặt theo đơn ngày 16/12/2022.
Bị hại:
- Ông H, sinh năm 1995; nơi cƣ trú: Phƣờng B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Ông L, sinh năm 1994; nơi cƣ trú: khu phố T, phƣờng G, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
L không có nghề nghiệp ổn định, không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của ngƣời khác. Thực hiện ý định, khoảng 02 giờ 00 phút ngày 06/8/2022, L đi bộ trong khu vực khu phố T, phƣờng G, thành phố T tỉnh Bình Dƣơng tìm sài sản để trộm cắp. Khi đi đến quán cà phê M tại địa chỉ số khu phố T, phƣờng G, thành phố T thấy quán còn mở cửa nên L đi vào bên trong nhìn thấy ông H đang nằm ngủ trên võng, bên cạnh có 01 điện thoại di động hiệu Sam sung SM-N900L màu đen đang để trên ghế nhựa màu xanh, L quan sát không có ngƣời nên lén lút lấy điện thoại này bỏ vào túi quần bên trái phía trƣớc đang mặc rồi bỏ đi. Đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, L đi đến trƣớc quán cà phê D, địa chỉ khu phố B, phƣờng N, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, thấy quán đã đóng cửa và không có ngƣời trông coi nên đã trèo qua hàng rào đi vào bên trong quán đi đến khu vực quầy tính tiền của quán thì phát hiện có một máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A2016 with Spen này đen để trên bàn nên đã chiếm đoạt bỏ vào trong túi áo khoác phía trƣớc đang mặc rồi nhánh chóng trèo rào ra bên ngoài và rời khỏi hiện trƣờng.
Đến khoảng 03 giờ 10 phút ngày 08/8/2022, Công an phƣờng G, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng tuần tra đến đoàn đƣờng D, khu phố H, phƣờng G, thành phố T thì phát hiện L đang đi bộ trên đƣờng có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính thì phát hiện trong túi quần bên trái phía trƣớc có một 01 điện thoại di động hiệu Sam sung SM-N900L và trong túi áo khoác phía trƣớc có một máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A2016 with Spen màu đen. L khai nhận các tài sản trên do L trộm cắp mà có và đang đi tìm chỗ để tiêu thụ nên lực lƣợng công an phƣờng G đƣa L về trụ sở làm việc.
Ngày 08/8/2022, ông L là chủ quán cà phê D đến Công an phƣờng N trình báo sự việc bị mất trộm tài sản vào ngày 06/8/2022; cùng ngày ông H đến Công an phƣờng G trình báo sự việc bị mất trộm tài sản.
Qua điều tra, bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Sam sung SM-N900L màu đen và 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A2016 with Spen màu đen.
Tại Biên bản định giá và Bản kết luận định giá tài sản ngày 09 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kệt luận: 01 điện thoại di động hiệu Sam sung SM-N900L màu đen có giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A2016 with Spen màu đen có giá 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng cộng 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Bản Cáo trạng số 349/CT-VKS-TA ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam sung SM-N900L màu đen là tài sản của ông H nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Hƣng là có căn cứ.
Đối với 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A2016 with Spen màu đen là tài sản của ông L nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông L là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, các bị hại đã đƣợc nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thƣờng nên không đề nghị xem xét.
- Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo ăn năn, hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, xét thấy, đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, bị hại vắng mặt, việc vắng mặt của bị cáo và bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 290, Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo và bị hại.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và các đƣơng sự không có ý kiến hoặc không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Trong quá trình điều tra, bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 06 tháng 8 năm 2022, tại quán cà phê M tại địa chỉ khu phố T, phƣờng G, thành phố T, bị cáo L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu Sam sung SM-N900L màu đen, trị giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của bị hại H và khoảng 03 giờ 00 phút, cùng ngày, tại quán cà phê D, địa chỉ số khu phố B, phƣờng N, thành phố T, bị cáo L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A2016 with Spen màu đen, trị giá 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) của bị hại ông L. Tổng tài sản bị chiếm đoạt trị giá 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã 01 lần thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, đã bị xử phạt và cải tạo nhƣng không lấy đó làm bài học, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội hai lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngày 21/4/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2015/HS-ST, chƣa đƣợc xóa án tích, nay lại phạm tội mới với lỗi cố ý nên thuộc trƣờng hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Điều 136, điểm c, d khoản 2 Điều 290; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo L 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/8/2022.
2. Về án phí: Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an TP. Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Ánh |