vanban.org

Bản án 341/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV số tiền 27.237.000 đồng còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 20131121-500000-0090 ngày 14 tháng 11 năm 2013. Trả làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH TV - LE THI H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 341/2019/DS-ST
Ngày: 04-11-2019
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trần Thị Bích Liên

2/ Bà Phạm Kim Tuyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2019/TLST-DS ngày 18/01/2019 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 308/2019/QĐST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2019 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 727/2019/TB-TA ngày 17 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam TV

Địa chỉ: 89 đường Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hồng Q, sinh năm 1994 – Có mặt

Địa chỉ: Tầng 8, tòa nhà Cộng Hòa Garden, số 20 Cộng Hòa, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 10 năm 2018).

Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1973 – Vắng mặt

Địa chỉ: X, Tổ 6, Ấp 4, xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hồng Quân trình bày:

Ngày 14/11/2013, bà Lê Thị H vay của Ngân hàng TMCP Việt Nam TV (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 39.067.000 đồng theo hợp đồng tín dụng 20131121-500000-0090, lãi suất là 3.75%/tháng, thời hạn vay là 36 tháng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Ngân hàng đã giải ngân số tiền này cho bà Lê Thị Hiền.

Theo hợp đồng 35 tháng đầu bà H phải trả mỗi tháng là 1.073.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.512.000 đồng.

Thực hiện hợp đồng bà H đã trả được cho Ngân hàng 10 lần với số tiền là 11.830000 đồng. Kể từ ngày 20/11/2015 đến nay thì bà H không trả nữa. Tính đến ngày 04/11/2019, bà H còn nợ Ngân hàng số tiền là 27.237.000 đồng, bao gồm nợ gốc là 16.694.544 đồng và lãi tính đến ngày 10/10/2019 là 10.542.456 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP Việt Nam TV khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị H phải chịu trách nhiệm cá nhân trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ nêu trên. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Nguyên đơn yêu cầu không tính lãi phát sinh từ ngày 05/11/2019 cho đến khi yêu cầu thi hành án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án để bà Lê Thị H là bị đơn đến Tòa án để làm việc và giải quyết vụ án nhưng bà Lê Thị H vẫn không có mặt mà không rõ lý do.

* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng về phiên tòa sơ thẩm. Việc xét xử vắng mặt các đương sự đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

{1}. Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng TMCP Việt Nam TV khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị H phải thanh toán số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng. Bà Lê Thị H có nơi cư trú tại huyện Nhà Bè nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị H là bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để tiếp cận công khai thu thập chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

{2}. Về yêu cầu của nguyên đơn:

Xét Văn bản Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20131121-500000-0090 ngày 14/11/2013 và Văn bản phê duyệt giải ngân của Ngân hàng có đủ cơ sở để xác định giữa bà Lê Thị H và Ngân hàng đã phát sinh giao dịch dân sự là vay tài sản. Về lãi suất cho vay các bên thỏa thuận là 3.75%/tháng là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng cộng bà Lê Thị H còn nợ Ngân hàng số tiền là 27.237.000 đồng. Như vậy là bà H đã vi phạm điều khoản thanh toán của hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà H phải chịu trách nhiệm cá nhân trả nợ là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về phương thức trả nợ: Do bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ kéo dài từ 20/11/2015 đến nay làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc bà H phải trả làm một lần toàn bộ số nợ nêu trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

{3}. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

- Căn cứ Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1/ Buộc bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV số tiền 27.237.000 đồng còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 20131121-500000-0090 ngày 14 tháng 11 năm 2013.

Trả làm một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và Ngân hàng TMCP Việt Nam TV có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Lê Thị H chậm thi hành khoản nợ nêu trên thì bà Lê Thị H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải trả theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thầm là 1.361.850 đồng do bà Lê Thị H phải chịu.

- Trả lại cho nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Việt Nam TV số tiền 680.925 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0033718 ngày 18 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TANDTP,VKSNDTP;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Nhà Bè;

- Chi cục THADS huyện Nhà Bè;

- Các đương sự;

- Lưu HS,VP.

Nguyễn Ngọc Long

Cỡ chữ