vanban.org

Bản án 341/2018/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A. Không chấp nhận kháng của nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thiên H và đồng phạm - phạm tội sử dụng trái phép tài sản (điều 142 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 31 Bộ luật Hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 341/2018/HS-PT
Ngày 29 tháng 6 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười;

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Trung Tuấn;

Bà Trần Thị Hòa Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 855/2016/TLPT-HS ngày 22 tháng 12 năm 2015 đối với bị cáo Phan Thiên H và các bị cáo khác, do có kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo của nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ và kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 395/2015/HS-ST ngày 10 và 11 tháng 11 năm 2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo, kháng nghị:

1/ Phan Thiên H; Giới tính: Nam; sinh ngày 22/01/1980, tại Bình Dương; Trú tại: 300/52 XVNT, Phường 21, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; hiệ

BD, phường HA,

Bình Dương; Nghề nghiệp:

VĐ; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông:

1- sinh năm 1955 và bà

, sinh năm 1956; vợ Hoàng Phú Đoan Tr (đã ly hôn) con 01 người 11 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt giữ ngày 15/10/2012 được trả tự do tại phiên tòa sơ thẩm ngày 11/11/2015 (có mặt).

2/

1; Giới tính: Nam; sinh ngày 09/10/1976, tại Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 540 HVT, Phường 4, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp:

VĐ; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông:

, sinh năm 1931 (chết) và bà

, sinh năm 1939; :

, con 03 người (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không; Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 26/8/2013 (có mặt).

3/

; Giới tính: Nữ; sinh ngày 29/01/1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Trú tại 153 LVC, phường LT,

, T

; Nghề nghiệp:

VĐ; Trình độ học vấn: Đại học kinh tế; con ông

2, sinh năm 1948 và bà

3, sinh năm 1949; Chồng Trần Khải Quốc V, con 01 người sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày: 26/8/2013 (có mặt).

- Người bào chữa cho các bị cáo:

1/ Luật sư Bùi Công H4, thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Phan Thiên H (có mặt).

2/ Luật sư Đoàn Thế Ph2, thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Ph1 (có mặt).

- Nguyên đơn dân sự:

VĐ.

Địa chỉ: 80 VVT, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: 11 NTD, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Huệ L (vắng mặt không có lý do).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/. NLQ1, sinh năm 1981 tại Thừa Thiên – Huế; thường trú: 52C, ấp AS, Phường 1, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng; tạm trú: căn hộ 8.15, chung cư TA 2, phường ĐHT, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt không có lý do).

2/. NLQ2; sinh năm 1982; thường trú: 1353/3 Đại lộ BD, phường HA, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (vắng mặt không có lý do).

3/. NLQ3, sinh năm 1956; thường trú: 1353/3 Đại lộ Bình Dương, phường HA, thành phố TDM, tỉnh Bình Dương (vắng mặt không có lý do).

4/. NLQ4, sinh năm 1949; thường trú: 153 LVC, phường LT, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt không có lý do).

5/. NLQ5, sinh năm 1971; thường trú: MX, TT, Bà Rịa – Vũng Tàu; tạm trú: 153 LVCí, phường LT, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt không có lý do).

6/. NLQ6, sinh năm 1974; Thường trú: 153 LVC, phường LT, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt không có lý do).

7/. NLQ7; sinh năm 1984 tại Vĩnh Phúc; thường trú: 38/15 đường số 3, khu phố 6, phường TT, quận TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh(vắng mặt không có lý do).

8/. NLQ8; sinh năm 1980 tại Hải Phòng; thường trú: 306 lô F chung cư PXL, Phường 7, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 68/12 TQĐ ,Phường 7, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

VĐ

-

01/2/2008 địa chỉ: 80 VVT, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, do bà Đỗ Sông H3 - Tổng giám đốc, ông

-

VĐ

ịnh của pháp luật và của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) liên quan đến việc tổ chức, quả công ty đại chúng chưa niêm yết tại HNX (giao dich trên thị trường UPCoM). Chứng khoán được giao dịch gồm cổ phiếu và trái phiếu chuyển đổi trên thị trường UPCoM. Phương thức giao dịch thoả thuận gồm 2 hình thức: Thoả thuận điện tử và thoả thuận thông thường. Phần mềm giao dịch của VDSE là BOSC.

Tại bản hướng dẫn giao dịch chứng khoán tạ

VĐ như sau:

Thoả thuận điện tử:

- Là hình thức giao dịch trong đó đại diện giao dịch VDSE nhập lệnh vào hệ thống giao dịch với các điều kiện giao dịch đã được xác định và lựa chọn lệnh đối ứng phù hợp để thực hiện giao dịch.

- Áp dụng trong trường hợp nhà đầu tư (NĐT) có nhu cầu mua bán chứng khoán nhưng không tự tìm được đối tác để thực hiện giao dịch.

- Khi NĐT đặt lệnh, đại diện giao dịch VDSE tìm các lệnh đối ứng trên bảng điện tử của hệ thống đăng ký giao dịch phù hợp yêu cầu giao dịch của NĐT rồi nhập lệnh với các điều kiện giao dịch đã được xác định để thực hiện lệnh giao dịch cho NĐT…

- Đối với các lệnh thoả thuận chưa thực hiện: đại diện giao dịch VDSE được phép sửa, huỷ lệnh theo yêu cầu NĐT…(BL.179e)

Về việc mở tài khoản:

- Để thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán tại VDSE, NĐT phải mở một tài khoản giao dịch chứng khoán…

- Tài khoản giao dịch chứng khoán (GDCK) dùng chung cho Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM (HOSE), Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNSE) và giao dịch chứng khoán trên thị trường UPCoM…

Thủ tục mở tài khoản GDCK tại VDSE: nhân viên môi giới của VDSE hướng dẫn NĐT: Giấy đề nghị mở tài khoản GDCK, hợp đồng mở tài khoản GDCK và giấy đăng ký GDCK bằng điện tử và đối với cá nhân NĐT kèm theo giấy CMND hoặc giấy uỷ quyền (nếu cho người khác thực hiện việc giao dịch).

Mở tài khoản tiền tại ngân hàng: Để giao dịch chứng khoán tại VDSE, NĐT phải có mở tài khoản tiền tại các ngân hàng mà VDSE đã liên kết…

Về lưu ký chứng khoán: NĐT đang sở hữu chứng khoán của VDSE niêm yết dưới dạng chứng chỉ phải lưu ký chứng khoán trước khi giao dịch…

Khi đã có tiền, chứng khoán trong tài khoản, NĐT có quyền thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán.

Ngày 01/3/2008 Công ty VĐ

ố

-

Nguyễn Ngọc Ph1

ổng giám đốc, phụ trách khố

, môi giới chứng khoán (BL.182).

Ngày 29/8/2009, Công ty VĐ

ố

-

Phan Thiên H

–

, H

H a công ty VĐ (BL.180)

Ngày 27/10/2009, Công ty VĐ

ố

-

Lê Thị Phương A, chức danh nhân viên phòng môi giới, giao dịch chứng khoán (BL.180)

, Phan Thiên H

Nguy Ph1

VĐ

-

:

Phan Thiên H

NLQ1

H

VĐ: CMND

NLQ2

H

NLQ2

H

Phan Thiên H

.

, H

03 giấ

VĐ Phương A

H

NLQ4

NLQ5

087C0 tên NLQ6.

Phan Thiên H,

1

VĐ trên theo ch

:

1. Phan Thiên H,

1

NLQ1:

-

645 mang tên NLQ1

24/8/2009 H

), thành tiề

H

:

Sau khi k

, H

1 –

-

NLQ1

ứ

NLQ2

).

-

28/8/2009, H 47.200đ/CP;

:

28/8/2009, H

Thu Tr1

.

-

12/11/2009, H

), H

1

NLQ1

VĐ

12/11/2009.

,

1

VĐ 1.027.500.000đ

).

2. Phan Thiên H

-

NLQ4

-

NLQ6

787 -

NLQ5.

12/2009, H

ền 5.558.325.000đ

:

-

GDCK

NLQ4

23/11/2009, Phương A

24.400đ/CP

24.300đ/CP; 24/11/2009, Phương A

23.600

).

-

1

NLQ6

26/11/2009, Phương A

9.420.000đ.

-

NLQ5

30/11/2009, Phương A

1.460

61.000đ/CP

535.500.000đ.

, Phan Thiên H

Phương A

H

Phương A

H

.

, Công ty VĐ công ty VĐ

:

57.000đ/CP, 5.000 c

74.500đ/CP.

2

23.100đ/CP.

, Phan Thiên H

trên. H

1

, Ph1 ch

H

H nhưng H

1

NLQ1

645.

1

H

H

) H

1

. Ph1

H

.

Phương A

H

. Phương A

.

1

NLQ1

NLQ2

Phan Thiên H

NLQ1

H

.

NLQ8 – nhân viên môi

: NLQ8

Phan Thiên H

NLQ8

H.

: NLQ1, NLQ2

Phan Thiên H s

H

H

.

: NLQ4, NLQ5, NLQ6

Phương A

.

VĐ

, Công ty VĐ

. Công ty VĐ

.

. V đông NLQ1, NLQ4, NLQ6, NLQ5

.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 395/2015/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1 và Lê Thị Phương A phạm tội: “Sử dụng trái phép tài sản”.

1. Áp dụng khoản 3 Điều 142; điểm p, b khoản l, 2 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phan Thiên H 03 (ba) năm và 27 (hai mươi bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2012.

Căn cứ khoản 5 Điều 227 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố trả tự do ngay cho bị cáo Phan Thiên H tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Áp dụng khoản 3 Điều 142; điểm p, b khoản l, 2 Điều 46, Điều 47 và Điều 31 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc Ph1 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân Phường 4, Quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục.

3. Áp dụng khoản 3 Điều 142; điểm p, b khoản l, 2 Điều 46 và Điều 47 và Điều 60 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lê Thị Phương A 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án.

4. Đối với 5.444.812.046 đồng mà Công ty cổ phần Chứng khoán VĐ bán các chứng khoán của Phan Thiên H và Lê Thị Phương A, số chứng khoán còn lại trong tài khoản (uỷ quyền cho Phan Thiên H và Lê Thị Phương A) hiện nay bao gồm: 4 cổ phần PNJ, 26.574 cổ phần DIG và 40.000 cổ phần KLS, 13.330 cổ phần BCI và s

, thuộc quyền định đoạt của Công ty VĐ.

5. Tách thành vụ kiện dân sự khác khi Công ty cổ phần Chứng khoán VĐ đòi bồi thường đối với những thiệt hại khác trong việc mua bán chứng khoán của các bị cáo nêu trên.

6. Áp dụng Điều 618 của Bộ luật dân sự.

Buộc Công ty cổ phần Chứng khoán VĐ hoàn trả số tiền: 1.618.667.134 (một tỷ, sáu trăm mười tám triệu, sáu trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm ba mươi tư) đồng và các mã chứng khoán sau: 700 BMI. 100 FPT. 5,000 HLA. 1,220 LGC. 1,000 PNC. 293 STB. Trong tài khoản Nguyễn Ngọc Đức: 4 EIB. 5,000 HLA. 6,000 MCV. 2000 VIS. 1,500 VTL cho Nguyễn Ngọc Ph1.

7. Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự.

Trả lại cho ông Phan Hoàng H1 số tiền: 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị số 35/KNPT-P3 ngày 24/11/2015, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử các bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Ngày 23/11/2015, bị cáo Nguyễn Ngọc Ph1 có đơn kháng cáo kêu oan.

Ngày 24/11/2015, bị cáo Lê Thị Phương A có đơn kháng cáo kêu oan.

Ngày 26/11/2015, bị cáo Phan Thiên H có đơn kháng cáo kêu oan.

Ngày 23/11/2015, nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, xin xem xét lại phần trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và phân tích toàn bộ các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A là rất nguy hiểm cho xã hội. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A và xét quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sửa quyết định án sơ thẩm theo hướng xử phạt các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của từng bị cáo, vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo: Bị cáo Phan Thiên H từ 14 đến 15 năm tù; Bị cáo Nguyễn Ngọc Ph1 từ 7 đến 8 năm tù; Bị cáo Lê Thị Phương A từ 7 đến 8 năm tù.

Xét kháng cáo của nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị xem xét lại phần trách nhiệm dân sự, vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Đình chỉ xét xử đối với nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ do đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt không có lý do.

- Các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A tại phiên tòa vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nhưng không kêu oan, mà các bị cáo xin thay đổi kháng cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, với lý do: sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, còn phải nuôi cha mẹ già và còn nhỏ.

- Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ có kháng cáo nhưng Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

- Quan điểm của vị Luật sư bào chữa cho bị cáo Phan Thiên H thống nhất theo nội dung của bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phan Thiên H tội “Sử dụng trái phép tài sản”. Luật sư phân tích toàn bộ nội dung vụ án, cho rằng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ, bởi vì bị cáo Hậu không có ý thức lừa đảo để chiếm đoạt tài sản như quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” vị luật sư cho rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là phạm tội “Sử dụng trái phép tài sản” thiệt hại gây ra đã được khắc phục xong. Từ đó vị Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Thiên H và bác quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc giữ nguyên quyết định án sơ thẩm.

- Quan điểm của vị Luật sư bào cho bị cáo Nguyễn Ngọc Ph1, cũng phân tích toàn bộ chứng cứ, nội dung vụ án; luật sư cho rằng bị cáo Ph1 không có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo chỉ có hành vi sử dụng trái phép tài sản, cho rằng kháng cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ, vị Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Ph1, bị cáo Ph1 có nhiều nhiều tình tiết giảm nhẹ theo điểm g, h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Về phần trách nhiệm dân sự vị luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc Công ty chứng khoán VĐ trả lại số tiền cho bị cáo Phước và người có quyền lợi liên quan như đã xác nhận.

- Bị cáo Lê Thị Phương A cho rằng bị cáo chỉ mới vào Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ làm được hai tháng, bị cáo không có hành vi chiếm đoạt tài sản gì của công ty, bị cáo cũng không có hưởng lợi gì trong vụ việc này. Bị cáo không kháng cáo kêu oan như trong đơn kháng cáo đã nêu mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện phụng dưỡng cha mẹ già và chăm con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu,chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A và quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đơn kháng cáo của nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn dân sự là Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật để xét xử vắng mặt của Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ theo điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A đều thay đổi yêu cầu kháng cáo; các bị cáo không kháng cáo kêu oan nữa mà xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo thừa toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Các bị cáo không khiếu nại gì về nội dung vụ án, các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án để giảm nhẹ hình phạt; đồng thời bị cáo Phước, bị cáo Phương A còn yêu cầu xin được miễn trách nhiệm hình sự. Xét thấy, lời khai của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A phù hợp với lời khai của các bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, có cơ sở xác định hành vi của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép tài sản”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A, phạm tội “Sử dụng trái phép tài sản” theo khoản 3 Điều 142 Bộ luật hình sư là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A gây ra đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi của Công ty chứng khoán VĐ được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, nhưng do ý thức xem thường pháp luật, vì động cơ vụ lợi cá nhân, nên các bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội, tạo ra sự bất bình torng xã hội, nên cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm đối với các bị cáo nhằm răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

Xét thấy, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết định khung tăng nặng như gây thiệt hại tài sản có giá trị từ năm trăm triệu trở lên, các tình tiết giảm nhẹ như các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đặc biệt, Công ty chứng khoán VĐ đã giải tỏa các tài khoản chứng khoán mà các bị cáo đứng tên và được ủy quyền để khắc phục toàn bộ hậu quả do các bị cáo gây ra. Do đó, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử các bị cáo như đã nêu trên là phù hợp; tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.

Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của vị kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy đối với hành vi của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà hành vi của các bị cáo chỉ cấu thành tội “Sử dụng trái phép tài sản” như án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của vị kiểm sát viên tại phiên tòa; giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A; Hội đồng xét xử xét thấy: Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.

Xét kháng cáo của nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ; Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối với những thiệt hại mà Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ chưa đưa ra chứng cứ để chứng minh thì được tách ra thành vụ kiên dân sự khi Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ có yêu cầu là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới chứng minh cho thiệt hại khác do các bị cáo gây ra cho Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với các phần trách nhiệm dân sự khác Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào thiệt hại thực tế, căn cứ vào tài liệu chứng cứ để tuyên buộc trách nhiệm hoàn trả của các bên là đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Không chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A.

- Không chấp nhận kháng của nguyên đơn dân sự Công ty Cổ phần chứng khoán VĐ.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 395/2015/HSST ngày 11/11/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1 và Lê Thị Phương A phạm tội: “Sử dụng trái phép tài sản”.

1. Áp dụng khoản 3 Điều 142; điểm p, b khoản l, 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phan Thiên H 03 (ba) năm và 27 (hai mươi bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2012.

Căn cứ khoản 5 Điều 227 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố trả tự do ngay cho bị cáo Phan Thiên H tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Áp dụng khoản 3 Điều 142; điểm p, b khoản l, 2 Điều 46, Điều 47; Điều 31 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc Ph1 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân Phường 4, Quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục.

3. Áp dụng khoản 3 Điều 142; điểm p, b khoản l, 2 Điều 46; Điều 47; Điều 60 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lê Thị Phương A 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Thị Phương A cho Ủy ban nhân dân phường LT,

theo dõi, giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.

4. Đối với 5.444.812.046 đồng mà Công ty cổ phần Chứng khoán VĐ bán các chứng khoán của Phan Thiên H và Lê Thị Phương A, số chứng khoán còn lại trong tài khoản (ủyquyền cho Phan Thiên H và Lê Thị Phương A) hiện nay bao gồm: 4 cổ phần PNJ, 26.574 cổ phần DIG và 40.000 cổ phần KLS, 13.330 cổ phần BCI

,

, thuộc quyền định đoạt của Công ty VĐ.

5. Tách thành vụ kiện dân sự khác khi Công ty cổ phần Chứng khoán VĐ đòi bồi thường đối với những thiệt hại khác trong việc mua bán chứng khoán của các bị cáo nêu trên.

6. Áp dụng Điều 618 của Bộ luật dân sự.

Buộc Công ty cổ phần Chứng khoán VĐ hoàn trả số tiền: 1.618.667.134 (một tỷ, sáu trăm mười tám triệu, sáu trăm sáu mươi bảy ngàn, một trăm ba mươi tư) đồng và các mã chứng khoán sau: 700 BMI. 100 FPT. 5,000 HLA. 1,220 LGC. 1,000 PNC. 293 STB. Trong tài khoản Nguyễn Ngọc Đức: 4 EIB. 5,000 HLA. 6,000 MCV. 2000 VIS. 1,500 VTL cho Nguyễn Ngọc Ph1.

7. Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự.

Trả lại cho ông Phan Hoàng H1 số tiền: 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng.

8/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phan Thiên H, Nguyễn Ngọc Ph1, Lê Thị Phương A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ