- Tranh chấp gì? án hình sự — "MÃ HÓA BAN AN GOC Hồ Kỹ D 173 - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hồ Kỹ D1 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2025.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 340/2026/HS-ST Ngày 09 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kính
2. Bà Trần Thị Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 481/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2231/2026/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Hồ Kỹ D1; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981, tại thành phố CT; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Ấp TN, xã MH, thành phố CT; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Phong P1 (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị D2 (không rõ năm sinh); có vợ tên Nguyễn Thị M (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 17/11/2025 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Ông Nguyễn Trần P2, sinh năm: 1987; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 02 ML, tổ dân phố ML, phường NT, tỉnh KH; chỗ ở: 127/17 BV, phường TB, Thành phố HCM). (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 25/8/2025, Hồ Kỹ D1 đang ở tại công viên thuộc khu dân cư APT thì nhìn thấy 01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 55P7-7595 của ông Nguyễn Trần P2 đang dựng tại trước địa chỉ 08 đường số 1A khu dân cư APT, ấp 38, xã BC, Thành phố HCM, không có người trông coi nên D1 nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô này bán lấy tiền tiêu xài. D1 liền lén lút đi bộ đến bên trái chiếc xe và dùng tay trái cầm tay lái, tay phải cầm cảng sau đẩy lùi xe mô tô biển số 55P7-7595 xuống lề đường, rồi đẩy bộ đến tiệm sửa xe “NH” tại địa chỉ 495 APT – HL, ấp 38, xã BC, Thành phố HCM. Tại đây, D1 yêu cầu anh Nguyễn Ngọc H (chủ tiệm) mở khóa xe, nhưng không nói cho anh H biết xe này do trộm cắp mà có. Lúc này, anh H đang bận nên kêu D1 ngồi chờ.
Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, ông P2 phát hiện xe mô tô bị mất trộm nên đến Công an xã Bình Chánh trình báo. Qua truy xét, Công an xã Bình Chánh phát hiện Hồ Kỹ D1 đang ngồi tại tiệm sửa xe “NH” nên đưa D1 và xe mô tô biển số 55P7-7595 về trụ sở làm việc. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Hồ Kỹ D1 đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Trần P2 cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1218/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân xã Bình Chánh xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade biển số 55P7-7595 trị giá 6.300.000 đồng.
Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 55P7-7595 do bà Nguyễn Thị P3 đứng tên chủ sở hữu và cho cháu là ông Nguyễn Trần P2 mượn để làm phương tiện đi lại. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Trần P2 vào ngày 22/12/2025.
Đối với anh Nguyễn Ngọc H là người nhận mở khóa xe mô tô biển số 55P7-7595 cho Hồ Kỹ D1. Anh H không biết đây là tài sản do D1 trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với anh H.
Tại bản Cáo trạng số 388/CT-VKS-HS ngày 09/3/2026 và Công văn số 159/VKSHCM-KV10, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Hồ Kỹ D1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hồ Kỹ D1 về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị như sau:
* Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng: Tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe hiệu Honda AirBlade, biển số 55P7-7595, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là phù hợp quy định pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 25/8/2025, tại trước địa chỉ số 08 đường số 1A khu dân cư APT, ấp 38, xã BC, Thành phố HCM, bị cáo Hồ Kỹ D1 có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 55P7-7595 trị giá 6.300.000 đồng của ông Nguyễn Trần P2.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hồ Kỹ D1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án:
01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 55P7-7595 do bà Nguyễn Thị P3 đứng tên chủ sở hữu và cho cháu là ông Nguyễn Trần P2 sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Trần P2 vào ngày 22/12/2025 người quản lý hợp pháp tài sản là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Ngọc H là người nhận mở khóa xe mô tô biển số 55P7-7595 cho bị cáo D1. Anh H không biết đây là tài sản do D1 trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với anh H là có cơ sở.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).
Xử phạt bị cáo Hồ Kỹ D1 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2025.
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Hồ Kỹ D1 nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: (14) - Bị cáo; - VKS ND KV 10; - VKS ND TP.HCM; - TA ND TP.HCM; - CQ CSĐT CA TP. HCM; - CQ THA HS CA TP.HCM; - Phòng THA DS KV 10; - Người tham gia tố tụng khác; - Trại tạm giam Chí Hòa; - Phân trại tạm giam Bình Trị Đông; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PV06; - Lưu: HS, VT. + | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |