vanban.org

Bản án 340/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận cho chị Trần Thị U được ly hôn với anh Ngô Thành P

Về con chung: Giao Ngô Ngọc D1 ngày 07/12/2012 cho chị Trần Thị U3 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh P có quyền có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị U - Ngô Thành P"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận cho chị Trần Thị U được ly hôn với anh Ngô Thành P
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2025
“V/v ly hôn, yêu cầu nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Tuấn Hải

Ông Võ Văn Liềm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 239/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025 về “Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 131/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị U năm 1987 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã V, tỉnh Cà Mau.

* Bị đơn: Anh Ngô Thành P năm 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ ấp L, xã V, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2025, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn chị U sau:

Năm 2011 chị và anh Ngô Thành P quen biết, tìm hiểu nhau được bốn năm thì anh chị quyết định kết hôn với nhau, anh chị được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giangngày 29/11/2011. Sau khi cưới, vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người không hợp, bất đồng quan điểm sống, hai người không có tiếng nói chung, anh P làm rất ít về nhà và anh P không đưa tiền phụ giúp chị nuôi con mà để chị tự nuôi con, chị và anh P4 ly thân từ năm 2023 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị U xác định không thể hàn gắn hôn nhân lại được nữa vì chị đã không còn tình cảm yêu thương dành cho anh P chị yêu cầu ly hôn với anh P

Chị U khai trong quá trình sống chung với anh P, anh chị có một người con chung tên Ngô Ngọc D, sinh ngày 07/12/2012. Con chung do chị U trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Chị U định chị và anh P không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.

Tại phiên tòa, chị Trần Thị U cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân chị U yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Thành P Về con chung chị U yêu cầu được nuôi dưỡng Ngô Ngọc D1 ngày 07/12/2012 và chị U không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Ngô Thành P không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng anh P không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đUng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đUng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử về hôn nhân chấp nhận cho chị Trần Thị U3 được ly hôn với anh Ngô Thành P6 Về con chung giao Ngô Ngọc D1 ngày 07/12/2012 cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về tài sản chung, nợ chung và về cấp dưỡng nuôi con chị U không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: chị U yêu cầu ly hôn với anh P, yêu cầu nuôi con. Bị đơn có địa chỉ đăng ký thường trU tại ấp Ấ, xã V, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xác định quan hệ pháp luật “ly hôn, yêu cầu nuôi con” và thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Ngô Thành P tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh P vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: chị Trần Thị U và anh Ngô Thành P biết, tìm hiểu được bốn năm thì anh chị tự nguyện tổ chức đám cưới và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 152 ngày 29/11/2011, cho nên theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị U là chị có nguyện vọng được ly hôn với anh P lý do hai người không hợp, bất đồng quan điểm sống, hai người không có tiếng nói chung, anh P làm rất ít về nhà và anh P làm không đưa tiền phụ giúp chị nuôi con mà để chị tự nuôi con, chị và anh P ly thân từ năm 2023 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị U xác định không thể hàn gắn hôn nhân lại được nữa vì chị U không còn tình cảm với anh P nên chị U quyết định ly hôn với anh P Tòa án đã tiến hành thông báo hòa giải động viên nhằm tạo điều kiện cho hai bên hàn gắn lại hôn nhân nhưng anh P không có mặt nên không thể tiến hành hoà giải được. Tại phiên toà, Chị U và anh P cũng không gặp và chị U vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với anh P vì chị không còn tình cảm yêu thương dành cho anh P HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn anh chị đã không tìm hiểu kỹ tính tình của nhau nên sau thời gian chung sống giữa chị U và anh P xảy ra mâu thuẫn, từ đó không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau nên dẫn đến tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U là phù hợp.

Về con chung: chị U trình bày vợ chồng chị có một người con chung tên Ngô Ngọc D1 ngày 07/12/2012. Chị U yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian chị U và anh P ly thân từ năm 2023 đến nay thì chị U là người trực tiếp nuôi dưỡng con và con chung vẫn khỏe mạnh, phát triển bình thường; đồng thời, Ngô Ngọc D cũng có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống với mẹ nên Hội đồng xét xử giao Ngô Ngọc D cho chị U nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với thực tế, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị U không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: chị U định vợ chồng chị không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên chị U yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Đối với bị đơn anh Ngô Thành P, Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy anh P có đăng ký thường trú tại ấp L, xã V, tỉnh An Giangnhưng anh P vắng mặt ở nơi cư trU, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ Điều 175, Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh P theo quy định nhưng anh P vẫn không có mặt không có lý do và anh P cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị U cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của anh.

Xét ý kiến đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: bằng 300.000 đồng, chị U phải nộp do có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 175, Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 sửa đổi bổ sung năm 2010; Điều 56, 81 và 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: chấp nhận cho chị Trần Thị U được ly hôn với anh Ngô Thành P

2. Về con chung: Giao Ngô Ngọc D1 ngày 07/12/2012 cho chị Trần Thị U3 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Anh P có quyền có quyền tới lui thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở anh thực hiện quyền này. Anh chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Trần Thị U nộp án phí là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà chị U đã nộp theo biên lai thu số 0015003 ngày 12/6/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - An Giang. Xem như, chị U6 nộp xong án phí HNST.

5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 30/9/2025. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 9, Điều 7, Điều 7a, 7b Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ