vanban.org

Bản án 340/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 05/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A phạm tội “Giết người”.

Bị cáo Lê Đức T 10 (Mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2019. Bị cáo Nguyễn Viết H 07 (Bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức T - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340/2020/HS-ST
Ngày: 05-9-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lƣu Ngọc Cảnh

Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh S - Giáo viên

Bà Trần Thị Năm

Bà Đỗ Thị Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Tƣởng Thị Hền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 204/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 298/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. LÊ ĐỨC T, sinh ngày 14/01/20XX tại H N (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 10 tháng 24 ngày); ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn D X, xã H P, huyện Ứ H, TP Hà Nội; trình độ văn hóa: lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân T1 và bà Dương Thị L (đã mất); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/11/2019, bị Công an Hện Ứng Hòa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2019, có mặt.

2. NGUYỄN VIẾT H, sinh ngày 16/7/20XX tại H N (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 4 tháng 22 ngày); ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn D X, xã H N, huyện Ứ H, TP Hà Nội; trình độ văn hóa: lớp 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết X (đã mất) và bà Đỗ Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2019, có mặt.

3. LÊ TUẤN A, sinh ngày 13/9/19XX tại H N; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn D X, xã H P, huyện Ứ H, TP Hà Nội; trình độ văn hóa: lớp 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân S1 và bà Trần Thị H; có vợ Nguyễn Thị Phương T và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/12/2019 đến ngày 17/12/2019; bị bắt tạm giam ngày 20/4/2020, có mặt.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đức T:

Ông Lê Xuân T1, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Thôn D X, xã H P, huyện Ứ H, TP Hà Nội (là bố đẻ bị cáo T), có mặt.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Viết H:

Bà Đỗ Thị M, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Thôn D X, xã H N, huyện Ứ H, TP Hà Nội (là mẹ đẻ bị cáo H), có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Đức T:

Ông Nguyễn Ngọc Cƣờng - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Viết H:

Bà Đỗ Thị T - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Tuấn A:

Bà Đỗ Thị Hƣơng - Luật sư Văn phòng Luật sư Bảo Nhân thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.

* Bị hại:

Anh Lê Công S, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Thôn T B, xã H L, huyện Ứ H, TP Hà Nội, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lê Xuân S1, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Thôn D X, xã H P, huyện Ứ H, TP Hà Nội, có mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Dƣơng Văn Q, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Thôn D X, xã H P, huyện Ứ H, TP Hà Nội, có mặt.

2. Anh Lê Tích B, sinh năm 19XX; nơi cư trú: Thôn D X, xã H P, huyện Ứ H, TP Hà Nội, có mặt.

3. Anh Trần Phƣơng B1, sinh năm 20XX; nơi cư trú: Thôn D X, xã H P, huyện Ứ H, TP Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h00 ngày 08/12/2019, anh Dương Văn Q (sinh năm 19XX; trú tại thôn D X, xã H P, huyện Ứ H, thành phố Hà Nội) rủ nhóm bạn là anh Trần Tích B (sinh năm 19XX; trú cùng thôn Thôn D X) và anh Lê Công S (sinh năm 19XX; trú tại thôn T B, xã H L, huyện Ứ H, thành phố Hà Nội) đến nhà uống rượu. Sau khi uống rượu xong, anh Q rủ anh B và anh S đi hát Karaoke; đồng thời, anh Q rủ thêm bạn là Lê Tuấn A, sinh năm 19XX và Lê Đức T, sinh ngày 14/01/20XX (đều trú tại thôn D X, xã H P, huyện Ứ H) đi hát tại quán Karaoke O2 ở tổ dân phố Thọ Sơn, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Khi được anh Q mời thì T rủ thêm bạn là anh Trần Phương B1, sinh năm 20XX và Nguyễn Viết H, sinh ngày 16/7/20XX (đều trú tại thôn D X, xã H P, huyện Ứ H). Tuấn A rủ thêm anh Nguyễn Đức T1 (sinh năm 19XX; trú tại thôn Đ B, xã H T, huyện M Đ, Hà Nội) cùng đến quán Karaoke O2 để uống bia và hát karaoke.

Đến khoảng 19h00 cùng ngày thì tất cả nghỉ hát. Anh B đi về nhà lấy thêm tiền để trả tiền hát. Lúc này, T vẫn đang ở trong phòng hát; còn anh S cùng anh Q, anh T1, anh B1, anh B, H và Tuấn A ra ngồi uống nước, nói chuyện tại sảnh chờ trên tầng 2 quán Karaoke O2. Trong lúc nói chuyện thì Tuấn A và anh S tranh luận về một người tên là T2 dậy nghề cơ khí. Tuấn A cho rằng anh S coi thường T2 nên chửi S: “Đ. mẹ mày”. Dẫn đến xảy ra lời qua tiếng lại và cãi chửi nhau giữa Tuấn A và anh S. Lúc này, H vào phòng hát gọi T ra đi về. T đi ra đứng cạnh anh S, thấy anh S cãi nhau với Tuấn A. Do bênh Tuấn A nên T đã dùng tay phải cầm chai bia Saigon chưa sử dụng trong thùng bia để bên cạnh đập 01 cái vào vùng đầu bên phải của anh S, làm anh S bị choáng trượt khỏi ghế và ngồi ôm đầu. Thấy vậy, H xông đến dùng tay trái túm vai áo anh S, tay phải đấm liên tiếp nhiều cái vào đầu, mặt anh S và dùng chân phải đá 01 cái vào mặt anh S. Cùng lúc, T dùng tay phải đấm liên tiếp nhiều cái vào đầu anh S. Thấy T và H đánh anh S nên anh Q và anh B1 can ngăn đẩy H và T ra. Lúc này, Tuấn A đứng dậy chỉ tay về phía anh S nói: “Đập, đập chết thằng đấy cho tao” rồi bỏ ra ngoài. Nghe thấy Tuấn A hô, T tiếp tục cầm chai bia thứ 2, thứ 3 (đều là chai bia Hà Nội) đập liên tiếp vào đỉnh đầu anh S làm chai bia vỡ. T tiếp tục cầm chai bia Hà Nội thứ 4 đập về phía đầu anh S nhưng không trúng mà trúng vào tay anh S và rơi xuống đất. H xông vào dùng chân phải đá 01 cái vào mặt anh S, dùng tay phải đấm 02 - 03 cái vào đầu anh S làm anh S bị ngất xỉu thì anh Q, anh B1 và anh T1 chạy đến can ngăn nên cả hai dừng lại và đi về nhà. Đến 21h00 cùng ngày, Lê Đức T cùng Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A đến Công an huyện Mỹ Đức đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Hậu quả: Anh Lê Công S bị nhóm của T, Tuấn A và H đánh gây thương tích nặng; bị ngất xỉu tại chỗ nên được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Mỹ Đức; sau chuyển điều trị tiếp tại Bệnh viện Quân y 103 đến ngày 21/12/2019 ra viện.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Đức và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng, giám định thương tích… Kết quả như sau:

Tại biên bản khám nghiệm hiện trƣờng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Đức lập ngày 08/12/2019 tại quán Karaoke O2 ở ngõ 31 tổ dân phố Thọ Sơn, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội thể hiện:

“… Khám nghiệm hiện trường từ Tây B1 sang Đông Nam là khu vực sảnh uống nước trên tầng 2 có kích thước dài 7m20, rộng 5m45 có 02 lối đi ra vào phía Tây Bắc để đi vào phòng hát số 2 và số 3 xuống tầng 1 hoặc cầu thang lên tầng 3, phía Đông Nam để đi vào phòng hát số 6... Tại sảnh tầng 2 của quán ở phía Tây Bắc, sát tường bên phải là phòng số 3, ngoài cùng hai bên kê 02 chậu cây cảnh loại trúc Nhật tiếp đến tính từ phía cầu thang vào thì lần lượt để 01 bình cứu hoả, 01 loa to, kệ gỗ để ti vi, loa nhỏ, cây lau mạng nhện, sát phía ngoài loa to, kệ gỗ, 12 két bia gồm: 06 két bia Sài Gòn, 02 két bia Henniken xếp chồng lên nhau, 03 két bia Hà Nội, xếp chồng lên nhau, tại két bia trên cùng gồm 20 chai bia bị thiếu 03 chai, chồng chai bia Sài Gòn, thứ hai tính từ phía cầu thang đi đến két bia trên cùng gồm 20 chai thiếu 03 chai, chồng két bia Sài Gòn thứ 2 tính từ phía cầu thang đi đến két bia trên cùng bị thiếu 01 chai theo lời khai của anh Lê Xuân H, những chai bia bị thiếu là do một nhóm thanh niên đến hát trên tầng 2 quán Karaoke sau đó ngồi uống nước ở bàn uống nước tại sảnh tầng 2, xảy ra mâu thuẫn, một số thanh niên đã dùng những chai bia trên để đập vào đầu một thanh niên khác (sự việc anh H biết do lắp Camera tại khu vực trên ghi lại). Tại sảnh sát tường phía Đông Bắc để 01 chiếc quạt, một số ghế sắt xếp chồng lên nhau, một ghế tựa, một xô nhựa bên trong có 01 điếu cày, giữa sảnh tầng 2 kê 01 bàn hình vuông, làm bằng thép tròn bốn chân không có mặt kính, dưới nền sảnh về phía Tây Nam so với vị trí là chiếc bàn có các mảnh vỡ thủy tinh màu xanh, màu nâu và màu trắng, trong đó có một đầu vỏ thủy tinh màu xanh của chai bia Sài Gòn, 02 đầu vỏ thủy tinh màu nâu của chai bia Hà Nội, nằm trong diện (1,2x01)m và một số mảnh sứ màu trắng (loại chén uống nước) khám nghiệm hiện trường và mở rộng khám nghiệm hiện trường không phát hiện dấu vết gì khác”.

Quá trình khám nghiệm hiện trƣờng, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, gồm:

- Thu giữ tại hiện trường vụ án: Các mảnh vỡ thủy tinh màu xanh, màu nâu và màu trắng trong suốt, trong đó có 01 đầu vỏ thủy tinh màu xanh của chai bia Sài Gòn; 02 đầu vỏ của chai bia màu nâu, loại chai bia Hà Nội và một số mảnh kính trong suốt, kích thước (31x32)cm, vỏ chai bia màu nâu gắn mác bia Hà Nội, kích thước (13x05)cm, mảnh màu xanh mác chai Sài gòn (05x3,5)cm và một số mảnh sứ màu trắng loại chén uống nước (ký hiệu M).

- Thu giữ của anh Lê Xuân H (là chủ quán Karaoke O2) giao nộp: 01 USB chứa 02 đoạn video ghi cảnh đánh nhau ngày 08/12/2019 tại quán Karaoke O2 thuộc thôn Thọ S, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Tại bản kết luận giám định pháp y thƣơng tích số 1123/TTPY ngày 13/12/2019 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội, kết luận về thƣơng tích của anh Lê Công S nhƣ sau:

“…IV. Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu:...

- Tại chỗ: Vết thương vùng đỉnh phải, kích thước 2cm.

- Cận lâm sàng: CT.Scanner sọ não: Hình ảnh máu tụ ngoài màng cứng, thái dương đỉnh phải đã được mổ mở sọ giải ép lấy máu tụ.

- Xử lý: Rạch da hình vòng cung vùng thái dương đỉnh phải, qua da và tổ chức dưới da, bóc tách cân sọ và cơ thái dương phải, bộc lộ trường mổ vùng thái dương đỉnh trái. Bóc tách cân sọ và cơ thái dương phải. Tiến hành vollet sọ bằng 4 mũi khoan cắt, mở sọ, kích thước 5cm x 7cm, thấy máu tụ ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh phải, số lượng khoảng 75mml màu đen xẫm, một phần đóng bánh, nguồn chảy chủ yếu mao tĩnh mạch bề mặt màng cứng. Tiến hành bơm rửa, lấy bỏ máu tụ. Kiểm tra thấy não đập này theo nhịp mạch. Kiểm tra cầm máu vết mổ. Đặt một ống dẫn lưu dưới da. Đóng vết mổ theo lớp.

V. Phần khám giám định:

...2. Thương tích:

- Vết thương, vết mổ vùng bán cầu não phải hình vòng cung, kích thước khoảng 18cm x 0,5cm, còn chỉ, có dẫn lưu dưới da, dịch qua sode khoảng 200ml, dịch máu không đông.

- Hai mắt bầm tím nhẹ, nhắm mắt kín hai mắt.

3. Cận lâm sàng: Đọc lại các phim CT.Scanner sọ não chụp ngày 09/12/2019 của anh Lê Công S tại Bệnh viện Quân y 103: Hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng vùng bán cầu não phải, phù nề tổ chức não nhiều, đè đẩy đường giữa lệch sang trái, tụ máu phần mềm vùng trán phải. KHết sọ đáy mềm, kích thước khoảng 5cm x 7 cm...

VI. Kết luận tại thời điểm giám định:

1. Vết thương, vết mổ bán cầu não phải: 03%.

2. Máu tụ ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh phải, đã phẫu thuật: 11%.

3. Khuyết sọ bán cầu não phải, đáy mềm: 26%.

4. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng, ảnh hưởng chức năng đối với những tổn thương trên, đề nghị giám định bổ sung khi có đầy đủ căn cứ:

5. Nhiều khả năng các thương tích do vật tày, tày có cạnh gây nên.

Tỷ lệ tổn hại sức khoẻ: 36% (Ba mươi sáu phần trăm). Tính theo phương pháp cộng lùi”.

Ngày 13/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã Quyết định trưng cầu giám định thương tích bổ sung đối với anh Lê Công S nhưng anh S từ chối, không đi giám định thương tích bổ sung.

Tại bản kết luận giám định số 366/C09-TT3, ngày 28/2/2020 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an về dấu vết thu tại hiện trƣờng, nhƣ sau:

“… 1. Trên mẫu ký hiệu M có bám dính máu người, không phân tích được kiểu gen (ADN) do chất lượng dấu vết kém.

2. Lưu kiểu gen của Lê Công S tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an”.

Đối với chị Lê Thị H là chủ đăng ký kinh doanh quán karaoke O2, kết quả điều tra xác định: Quán Karaoke O2 không có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự; đưa công trình vào sử dụng không đảm bảo một trong các điều kiện về an toàn phòng cháy và chữa cháy đối với công trình không thuộc diện phải thẩm duyệt về phòng cháy chữa cháy vi phạm quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 11; khoản 2 Điều 36 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Do đó, ngày 15/5/2020 Phòng Cảnh sát Hình sự Công an thành phố Hà Nội đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Lê Thị H về hành vi trên, mức phạt 14.000.000 đồng.

Quá trình Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A đánh anh Lê Công S, đã làm thiệt hại về tài sản của quán Karaoke O2 gồm: 04 chai bia, mặt kính và chén uống nước. Chị Lê Thị H (là chủ quán) từ chối định giá tài sản và không yêu cầu các bị can H, Tuấn A và T phải bồi thường. Ngày 15/5/2020, Phòng Cảnh sát Hình sự Công an thành phố Hà Nội đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T, H, Tuấn A về hành vi hủy hoại tài sản của người khác quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, mức phạt đối với mỗi người là 3.500.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, anh Lê Công S đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định pháp luật. Về vấn đề bồi thường dân sự, anh Lê Công S sẽ đề nghị tại Tòa án.

Bản cáo trạng số 192/CT-VKS-P2 ngày 28/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng đã quy kết và các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Bị hại tại phiên tòa bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự trước khi mở phiên tòa gia đình bị cáo Lê Tuấn A đã bồi thường số tiền 110.000.000 đồng; gia đình bị cáo Lê Đức T đã bồi thường 10.000.000 đồng; gia đình bị cáo Nguyễn Viết H đã bồi thường 6.000.000 đồng nay tiếp tục buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A về tội “Giết người”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 57; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức T từ 10 đến 12 năm tù; Nguyễn Viết H từ 8 đến 10 năm tù và Lê Tuấn A từ 7 đến 9 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: xử lý theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Đức T trình bày bản bào chữa cho rằng tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú, đã khắc phục một phần hậu quả; mẹ mất sớm, bố ốm đau; bị cáo phạm tội khi dưới 18 tuổi. Người bào chữa đề nghị cho bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Viết H trình bày bản bào chữa cho rằng bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bố mất, mẹ ốm yếu; bị cáo phạm tội mới hơn 17 tuổi, chưa nhận thức được hậu quả của hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội do bị kích động bởi lời nói của Tuấn A; bị cáo chỉ dùng tay, chân không đánh; Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là nặng cho bị cáo; bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình đã bồi thường 6 triệu đồng; bị cáo ra đầu thú tại Cơ quan điều tra; ông nội bị cáo có công đóng góp cho nhà nước. Người bào chữa đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Tuấn A trình bày bản bào chữa cho rằng bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn thù hằn gì; việc bị cáo nói chỉ là hiệu ứng tâm lý; bị cáo H, T là người trực tiếp gây nên thương tích cho anh S; bị cáo đầu thú tại Cơ quan điều tra; sức khỏe của bị hại đã hồi phục; gia đình đã bồi thường, khắc phục 110 triệu đồng, bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã đưa bị hại đi cấp cứu. Luật sư đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát.

Trong phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Người bào chữa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Người bào chữa cho các bị cáo, các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật chứng đã thu giữ, các bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19h00 ngày 08/12/2019 tại quán Karaoke O2 ở tổ dân phố Thọ S, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, Lê Tuấn A và anh Lê Công S nói chuyện, tranh luận và xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau. Do bênh vực Lê Tuấn A nên Lê Đức T đã cầm chai bia Saigon đập thẳng vào vùng đầu bên phải của anh S làm anh S choáng váng trượt khỏi ghế. Thấy vậy, Nguyễn Viết H xông đến tay trái túm vai áo anh S, tay phải đấm liên tiếp nhiều cái vào đầu, mặt anh S, dùng chân phải đá 01 cái vào mặt anh S. T dùng tay phải đấm liên tiếp nhiều cái vào đầu anh S. Lúc này, Lê Tuấn A chỉ tay về phía anh S nói với T và H: “Đập, đập chết thằng đấy cho tao”. T tiếp tục cầm chai bia Hà Nội thứ 2, thứ 3 đập liên tiếp vào đỉnh đầu anh S làm chai bia vỡ. T tiếp tục cầm chai bia Hà Nội thứ 4 đập về phía đầu anh S nhưng không trúng mà trúng vào tay anh S và rơi xuống đất. H xông vào dùng chân phải đá một cái vào mặt anh S, dùng tay phải đấm 02 - 03 cái vào đầu anh S làm anh S bị ngất xỉu thì được mọi người can ngăn nên T, H dừng lại. Hậu quả: Do được cấp cứu và điều trị kịp thời nên Lê Công S không tử vong mà bị thương tích máu tụ ngoài màng cứng vùng thái dương; khuyết sọ bán cầu não phải, đáy mềm, tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 36%. Việc anh Lê Công S không bị tử vong là nằm ngoài thức chủ quan của các bị cáo. Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A đã phạm vào tội “Giết người”, các bị cáo phạm tội không vì lý do, mâu thuẫn nào lớn, phạm tội có tính chất hung hãn cao, quyết liệt nhằm tước đoạt ngay sinh mạng của người bị hại nên hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”. Chính vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng qui định của Pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng bởi lẽ chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà các bị cáo đã dùng chai bia, tay, chân đập nhiều nhát vào vùng trọng yếu là vùng đầu, mặt nhằm mục đích tước đoạt sinh mạng của bị hại, việc bị hại không bị tử vong là do được cấp cứu kịp thời. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an nơi công cộng; gây hoang mang lo lắng, bất bình trong nhân dân. Do vậy đối với các bị cáo cần phải đưa ra xét xử nghiêm khắc trước pháp luật nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với các bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu răn đe, đấu tranh và phòng ngừa loại tội phạm này nói chung.

Đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy bị cáo Lê Đức T có nhân thân xấu, có 01 tiền sự chưa được xóa, bị cáo là người giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người thực hiện tội phạm đầu tiên, là người trực tiếp dùng nhiều chai bia đập vào đầu bị hại gây thương tích lớn cho bị hại; tiếp đến là bị cáo Nguyễn Viết H tiếp nhận ý thức của bị cáo T, trực tiếp dùng tay, chân đánh vào đầu, người bị hại, quá trình phạm tội tích cực; bị cáo Lê Tuấn A là người đã gây ra mâu thuẫn với bị hại, bị cáo là người đã chỉ đạo, kích động các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy đối với các bị cáo cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, vai trò, nhân thân của từng bị cáo trong vụ án.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

- Tăng nặng: Không.

- Giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A đều thành khẩn khai báo nhận tội và tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình các bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; nhân thân bị cáo Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo Lê Đức T và Nguyễn Viết H phạm tội khi dưới 18 tuổi. Do vậy cũng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

- Tại phiên tòa bị hại anh Lê Công S đề nghị Hội Đồng xét xử buộc các bị cáo phải tiếp tục bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Xét thấy yêu cầu buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là có căn cứ, tuy nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì chỉ có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bị hại các khoản sau: Tiền viện phí có hóa đơn chứng từ là 24.674.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe do bị thương tật 36% là 40.000.000 đồng; tiền thuê xe đi điều trị là 3.400.000 đồng; tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong 26 ngày với mức 300.000 đồng/1 ngày là 7.800.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại trong 26 ngày với mức 300.000 đồng/1 ngày là 7.800.000 đồng; tiền mất thu nhập 1 tháng sau khi ra viện của bị hại là 9.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần với mức 30 tháng lương cơ sở là 44.700.000 đồng. Tổng cộng là 137.374.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, vai trò phạm tội của từng bị cáo để buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Cụ thể bị cáo Lê Đức T phải bồi thường 17.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Viết H phải bồi thường 10.374.000 đồng và bị cáo Lê Tuấn A phải bồi thường 110.000.000 đồng.

- Đối với các khoản tiền gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại thì được đối trừ đi khoản các bị cáo phải bồi thường.

- Bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H là người chưa thành niên nên người đại diện hợp pháp cho các bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân S1 là bố bị cáo Lê Tuấn A đã bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo, đến nay ông Lê Xuân S1 không có yêu cầu gì về khoản tiền đã bồi thường nên tòa không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Vật chứng gồm các mảnh vỡ thủy tinh màu xanh, màu nâu và màu trắng trong suốt trong đó có 01 đầu vỏ thủy tinh màu xanh của chai bia Sài Gòn, 02 đầu vỏ của chai bia màu nâu của chai bia Hà Nội, một số mảnh kính trong suốt, mảnh lớn nhất kích thước (31 x 32)cm, vỏ chai bia màu nâu gắn mác bia Hà Nội, kích thước (13 x 5)cm, mảnh màu xanh mác chai Sài Gòn (5 x 3,5)cm và một số mảnh sứ màu trắng loại chén uống nước đều không có giá trị nên tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Viết H và Lê Tuấn A phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự. xử phạt:

+ Bị cáo Lê Đức T 10 (Mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2019.

+ Bị cáo Nguyễn Viết H 07 (Bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2019.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/4/2020 (Được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 09/12/2019 đến ngày 17/12/2019).

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự, buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại anh Lê Công S tổng số tiền 137.374.000 đồng (Một trăm ba bẩy triệu ba trăm bẩy tư nghìn đồng), cụ thể:

- Bị cáo Lê Đức T (do người đại diện ông Lê Xuân T) phải bồi thường 17.000.000 đồng, đã bồi thường 10.000.000 đồng nay phải bồi thường tiếp 7.000.000 đồng (Bẩy triệu đồng).

- Bị cáo Nguyễn Viết H (do người đại diện bà Đỗ Thị M) phải bồi thường 10.374.000 đồng, đã bồi thường 6.000.000 đồng nay phải bồi thường tiếp 4.374.000 đồng (Bốn triệu ba trăm bẩy tư nghìn đồng).

- Bị cáo Lê Tuấn A phải bồi thường 110.000.000 đồng (đã bồi thường xong cho anh Lê Công S 110.000.000 đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự,

Tiêu hủy các mảnh vỡ thủy tinh màu xanh, màu nâu và màu trắng trong suốt trong đó có 01 đầu vỏ thủy tinh màu xanh của chai bia Sài Gòn, 02 đầu vỏ của chai bia màu nâu của chai bia Hà Nội, một số mảnh kính trong suốt, mảnh lớn nhất kích thước (31 x 32)cm, vỏ chai bia màu nâu gắn mác bia Hà Nội, kích thước (13 x 5)cm, mảnh màu xanh mác chai Sài Gòn (5 x 3,5)cm và một số mảnh sứ màu trắng loại chén uống nước.

(Tang vật hiện lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/6/2020 giữa Công an thành phố Hà Nội với Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội).

4. Về án phí:

- Bị cáo Lê Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo Nguyễn Viết H phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

- Bị cáo Lê Tuấn A phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ