vanban.org

Bản án 340/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 10/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Tùng L phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Lu…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hìnhsự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340/2020/HS-PT
Ngày: 10-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

Bà Huỳnh Kim Oanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 290/2020/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Tùng L. Do có háng cáo c a bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2020 c a Tòa án nhân dân huyện L.

- Bị cáo có háng cáo: Nguyễn Tùng L, sinh năm 1990; tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Đăng ý hộ hẩu thường trú tại: Ấp Bình H, xã Bình Thạnh T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn B và bà: Nguyễn Thị T; có vợ: Trần Thị Mỹ P, đã ly hôn tháng 4/2019 và có 01 con sinh năm 2010; Gia đình có 05 anh, chị, em, bị cáo là con út trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có ng i bị h i, ng i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hông háng cáo và Vi n i m sát hông háng nghị.

NỘI D NG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào hoảng 11 giờ ngày 15/10/2019, Nguyễn Tùng L uống bia với Lê Thị Bích N, Bùi Thanh L1, Lê Phước T và Dương Thị Bích T1 tại nhà c a chị T1 thuộc ấp Bình H, xã Bình Thạnh T, huyện L. Đ n hoảng 14 giờ 30 phút, Trương Minh T2 là bạn c a N đ n. Lúc này L thấy mệt nên đi ra ngoài trước nhà nằm võng, còn L1 thì đi về nhà. Khoảng 20 phút sau, Lâm nghe ti ng la c a N nên đi vào thì thấy N ném chén, dĩa trên bàn tiệc xuống sàn nhà. L hỏi thì N nói “Thấy bạn bè bị đánh mà hông bênh vực” rồi cả hai cự cãi nhau. L thấy mặt N đỏ và sưng nên hỏi T1 và T thì T2 và T trả lời N bị T2 dùng tay đánh vào mặt và đập bể điện thoại c a N. Thấy vậy L kiêu T điều hiển xe mô tô chở L đ n thị trấn L uống cà phê để tránh mặt và hông cự cãi với N nữa, nhưng hi đ n quán cà phê Bình P thuộc xã Bình Thạnh T, huyện L thì L kêu T chở L về quán cà phê Giọt Đ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, hi đ n trước quán cà phê Giọt Đ, L thấy T2 và N đang giằng co nhau trên cây cầu s t b t qua nhà chị T1, nên L xuống xe đi vào, trên đường đi L thấy một cái xuổng bằng im loại dài 49cm có mũi vuốt nhọn đang dựng bên trái trụ lan can cầu, nên lấy cầm ở tay phải rồi đi đ n cách T2 hoảng 1m đánh từ trên xuống trúng vào vùng chẩm trái c a T2 một cái gây thương tích thì được T1 và T can ngăn rồi chở T2 đi cấp cứu tại Trung tâm y t huyện L. Còn L sau hi gây thương tích cho T2 xong để cái xuổng ngoài dốc cầu rồi chạy về nhà.

Ngày 16/10/2019, anh Trương Minh T2 vi t đơn gửi đ n Công an huyện L yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Tùng L và Lê Phước T về hành vi cố ý gây thương tích cho anh.

Đ n ngày 30/10/2019, anh Trương Minh T2 đ n cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu tr ng hồng, thân điện thoại bị cong hông mở nguồn được. Anh T2 trình bày điện thoại này bị hư hỏng do ngày 15/10/2019 bị Lê Phước T xô đẩy gây nên và yêu cầu T bồi thường.

Cơ quan điều tra thu giữ một cái xuổng bằng im loại có chiều dài 49cm, loại cán tròn, mũi vuốt nhọn, đã qua sử dụng.

K t quả giám định pháp y về thương tích số 379/TgT ngày 12/12/2019 c a Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp t luận Trương Minh T2:

- Thương tích: Sẹo v t thương phần mềm vùng chẩm trái ích thước 2,3cm x 0,4cm sẹo lành, hông dấu huy t xương.

- Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo v t thương phần mềm vùng đầu.

- K t luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành èm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 c a Bộ y t quy định, tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Trương Minh T2 do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm). Theo nguyên t c cộng lùi tại Thông tư.

- K t luận hác: Sẹo v t thương phần mềm trên hông ảnh hưởng thẩm mỹ.

Tại biên bản nhận dạng ngày 20/5/2020, bị cáo Nguyễn Tùng L xác định cây xuổng bằng im loại bị rỉ sét dài 49cm, lưỡi dài 14cm, cán dài 35cm là hung khí Nguyễn Tùng L dùng để gây thương tích cho anh Trương Minh T2 vào ngày 15/10/2019.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2020/HS-ST ngày 19/8/2020 c a Tòa án nhân dân huyện L đã quy t định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tùng L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm a hoản 1 Điều 134; điểm i, s hoản 1 Điều 51 c a Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Tùng L đi chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhi m dân sự, x lý v t ch ng, án phí và quyền háng cáo theo lu t định.

Ngày 28 tháng 8 năm 2020, bị cáo Nguyễn Tùng L có đơn háng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tùng L với tội danh, điều hoản và mức hình phạt 06 tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Án sơ thẩm đã xem xét nhân thân cũng như các tình ti t tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo háng cáo xin hưởng án treo và đã nộp toàn bộ tiền bồi thường, h c phục hậu cho bị hại, tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L theo biên lai thu tiền số 015995 ngày 07/10/2020. Tuy nhiên, hành vi c a bị cáo “Có tính chất côn đồ” và mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo L là phù hợp và có lợi cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo Nguyễn Tùng L, giữ nguyên phần quy t định c a bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, hông tranh luận mà chỉ xin được hưởng án treo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tùng L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình. Lời hai nhận tội c a bị cáo phù hợp với lời hai c a bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời hai c a người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đ cơ sở để xác định: Vào hoảng 11 giờ ngày 15/10/2019, Nguyễn Tùng L uống bia với N, L1, T và T1 tại nhà c a chị T1 thuộc ấp Bình H, xã Bình Thạnh T, huyện L. Sau đó có T2 là bạn c a N đ n. Lúc này L thấy mệt nên nằm võng, còn L1 thì đi về nhà. Khoảng 20 phút sau, thì T2 và N xảy ra mâu thuẫn nên T2 đánh vào mặt c a N. Đ n hoảng 15 giờ cùng ngày, L thấy T2 và N đang giằng co nhau trên cây cầu s t b t qua nhà chị T1, nên L lấy xuổng bằng im loại dài 49cm dựng bên trái trụ lan can cầu, đi đ n cách T2 hoảng 1m đánh từ trên xuống trúng vào vùng chẩm trái c a T2 một cái gây thương tích, được mọi người can ngăn rồi chở T2 đi cấp cứu tại Trung tâm y t huyện L. Còn L sau hi gây thương tích cho T2 xong để cái xuổng ngoài dốc cầu rồi chạy về nhà.

K t quả giám định pháp y về thương tích số 379/TgT ngày 12/12/2019 c a Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp t luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Trương Minh T2 do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 02%.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi c a bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đ n sức hỏe c a người hác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Giữa bị cáo và người bị hại hông có mâu thuẫn với nhau nhưng chỉ vì có ý định bênh vực N và có rượu trong người nên bị cáo dùng cái xuổng bằng im loại đánh vào vùng người anh T2 gây thương tích. Bị cáo nhận thức được cái xuổng bằng im loại là hung hí nguy hiểm, nhận thức được hành vi dùng cái xuổng đánh vào cơ thể người hác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho Trương Minh T2 bị thiệt hại về sức hỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 02%, chứng tỏ việc phạm tội c a bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

Hành vi c a bị cáo mặc dù gây thương tích cho bị hại 2% nhưng đã định hung trách nhiệm hình sự tại điểm a hoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tùng L về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã cân nh c, xem xét về nhân thân cũng như các tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo háng cáo xin được hưởng án treo và đã nộp toàn bộ tiền bồi thường, h c phục hậu cho bị hại, tiền án phi hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L theo biên lai thu tiền số 015995 ngày 07/10/2020. Đây là tình ti t mới tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình ti t giảm nhẹ quy định tại điểm b hoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy hành vi phạm tội c a bị cáo “Có tính chất côn đồ” thuộc trường hợp hông được hưởng án treo theo Nghị quy t 01/2018/NQ-HĐTP và mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo L là phù hợp nên hông chấp nhận háng cáo c a bị cáo L, giữ nguyên quy t định c a bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Về phần áp dụng pháp luật do có tình ti t mới tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử bổ sung thêm tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo tại cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, để ổn định bản án Hội đồng xét xử hông sửa án đối với phần này.

[4] Xét đề nghị c a vị đại diện Viện iểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo L là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do háng cáo c a bị cáo L hông được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần hác c a quy t định bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực ể từ ngày h t thời hạn háng cáo, háng nghị.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận háng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo Nguyễn Tùng L. Giữ nguyên quy t định c a bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo L.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tùng L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căncứ vàođiểm a hoản1 Điều134;điểm b,i,s hoản1 Điều 51 c a Bộ luật hìnhsự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tùng L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo Nguyễn Tùng L đi chấp hành hình phạt tù.

2. Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135; hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Nguyễn Tùng L phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần hác c a quy t định bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực ể từ ngày h t thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ