vanban.org

Bản án 34

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vụ án Vũ Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng H ình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H À TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 34/2021/HS -ST
Ngµy: 22-6-2021

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HO

À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG, TỈN H THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: bà Trịnh Thanh H ương

Các Hội thẩm nhân dân:

- bà Nguyễn Thị Li ên;

- ông Đoàn Thân.

- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Th ư - Thư k ý Tòa án, Toà án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: ông Đỗ Tuấn Anh - Kiểm sát vi ên

Ngày 22 tháng 6 năm 2021 tại Hội tr ư ờng xét xử T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án hình sự s ơ th ẩm thụ lý số 26/2021/HSST ngày 17/5/2021, theo quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số 30/2021/QĐXX - HS ngày 09/6/2021 đối với bị cáo:

Vũ Văn L ; sinh năm 1994; tại xã H, huyện H, tỉnh T ; trú tại: thôn N, xã H, huyện H, tỉnh T ; nghề nghiệp: lao động tự do; tr ình độ văn hoá: không biết chữ ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

Vũ Văn L , con bà Nguyễn Thị N ; bị cáo chưa có v ợ .

Tiền sự: Không .

Tiền án: Tại bản án Hình sự s ơ th ẩm số 08/2016/HS-ST ngày 26/01/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện H à Trung xử phạt 12 tháng t ù về tội Trộm cắp t

ài sản. Bị cáo chưa ch ấp h ành phần bồi th ư ờng dân sự.

Tại bản án Hình sự s ơ th ẩm số 47/2017/HS -ST ngày 22/8/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện H à Trung xử phạt 12 tháng t ù về tội Trộm cắp t

ài sản. Bị cáo ch ưa chấp h ành phần bồi th ư ờng dân sự.

Nhân thân: Ngày 02/8/2015 bị cáo bị Công an xã Hà Bình ra Quyết định xử phạt

vi phạm h ành chính về h ành vi trộm cắp t ài sản. Bị cáo ch ưa ch ấp h ành quyết định này, nhưng đ ã hết thời hiệu

thi hành quyết định để đ ư ợc coi l à chưa b ị xử lý h ành chính.

Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo bị

bắt để tạm giam từ ng ày 22/01/2021 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phi ên toà.

Bị hại:

- Anh Phạm Thế H ; sinh năm: 1988; nơi cư trú: tiểu khu 5, thị trấn H, huyện H,

tỉnh T ; vắng mặt.

- Bà Hồ Thị N ; sinh năm: 1954; nơi cư trú: tiểu khu 6, thị trấn H, huyện H, tỉnh T

; vắng mặt.

- Ông Trần Văn N ; sinh năm: 1956; nơi cư trú: tiểu khu 5, thị trấn H, huyện H,

tỉnh T ; vắng mặt.

- Chị Đỗ Thị Hải H

; sinh năm: 1983; nơi cư tr ú: tiểu khu 5, thị trấn H, huyện H, tỉnh T ; vắng mặt.

- Bà Mai Thị M ; sinh năm: 1962; nơi cư trú: tiểu khu 5, thị trấn

H, huyện H, tỉnh T; vắng mặt.

- Bà Lê Thị L ; sinh năm: 1953; nơi cư trú: tiểu khu 5, thị trấn H, huyện H, tỉnh T

; vắng mặt .

Ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li

ên quan: bà Đỗ Thị L ; sinh năm: 1962; nơi cư trú: tiểu khu 3, thị trấn H, huyện H, tỉnh T

; vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án

đư ợc tóm tắt nh ư sau:

Trong khoảng th ời gian từ ng ày 13/12/2020 đến n gày 24/12/2020, Vũ Văn L đã thực hiện các h ành vi, cụ thể nh ư sau:

Lần thứ nhất:

Khoảng 03 giờ ng ày 13/12/2020, Lực đi bộ từ nh

à đến khu vực tiểu khu 5, thị trấn H với mục đích trộm cắp t

ài sản. Lực phát hiện nh à anh Phạm T hế H , sinh năm 1988 trú tại tiểu khu 5, thị trấn H

cửa cổng khóa, mọi ng ư ời đ ã ngủ n ên L trèo tư ờng vào bên trong đi đế n khu vực chuồng g à nhà anh H bắt trộm 05 con g à (01 con trống, 04 con mái), tổng trọng l ư ợng 12 kg bỏ v ào bì xác rắn mang theo. Sau đó L theo đư ờng cũ tr èo ra ngoài rồi man g số g à trên vào khu vực chợ L bán cho một ng ư ời phụ nữ

không rõ tên, tuổi, địa chỉ với số tiền 300.000 đồng

(ba trăm nghìn đồng) .

Lần thứ hai: Khoảng 03 giờ ng ày 18/12/2020, L đi bộ từ nh à đến khu dân c ư thu ộc tiểu khu 6, thị trấn H với mục đích để trộm cắp

tài sản . Khi đến cổng nh à bà Hồ Thị N , sinh năm 1954, trú tại tiểu kh u 6, thị trấn H , thấy cửa cổng kh óa và bên trong tắt điện n ên L đã trèo tư ờng v ào sân nhà bà N xem có tài sản g ì không để trộm cắp. Phát hiện thấy

ở góc sân bên phải theo h ư ớng từ ngo ài vào trong có 01 chiếc xe đạp mini nhật, m àu xanh da trời, L lại gần dắt chiếc xe đạp rồi nâng qua t

ư ờng r ào ra ngoài. Sau đó, L đạp xe v ào khu vực chợ L tìm ngư ời để bán chiếc xe đạp tr

ên. Khoảng 09 giờ 30 phút c ùng ngày, L gặp b à Đỗ Thị L , sinh năm 1962, trú tại tiểu khu 3, thị trấn H v

à bán cho bà L chiếc xe đạp tr ên với giá 250.000đ (hai trăm năm mươi ngh ìn đồng) .

Lần thứ ba: Khoảng 03 giờ ng ày 20/12/2020, L đi bộ từ nh à đến khu vự c tiểu khu 5, thị trấn H xem nhà nào sở hở th ì đột nhập trộm cắp t

ài sản. Khi đi đến nh à ông Trần Văn N , sinh năm 1956, trú tại tiểu khu 5, thị trấn H

thấy nh à đã tắt đ èn, cử a khóa nên L trèo tư ờng vào bên trong khu vực chuồng g à nhà ông N bắt trộm 11 con g à (06 con trống, 05 con mái), tổn g trọng l ư ợng 30kg bỏ v ào bì xác rắn mang theo. Sau đó , L mang số g à trên tới khu vực chợ L bán cho một ng ư ời phụ nữ kh

ông biết t ên, tuổi, địa chỉ với

số tiền 800.000 đ (tám trăm nghìn đồng).

Lần thứ t ư: Khoảng 03 giờ ng ày 24/12/2020, Vũ Văn L đi bộ từ nh à vào khu vực dân sinh tiểu khu 5, thị trấn H với mục đích t ìm kiếm t ài sản để trộm cắp. Khi đ

i bộ đến nh à chị Đỗ Thị Hải H , sinh năm 1983, trú tại tiểu khu 5, thị trấn H

, thấy cửa cổng đóng n ên L trèo qua tư ờng rào đi vào trong sân vư ờn, phát hiện ở gốc câ

y nhãn nhà chị H dựng 01 chiếc x e đạp mini, m àu xanh lá cây, L dắt chiếc xe đạp ra gần bờ t

ư ờng rồi nâng ra ngo ài, vừa đạp xe vừa tiếp tục quan sát nh à khác để trộm cắp t ài sản. Khi tới nh à bà Mai Thị M , sinh năm 1962, trú tại tiểu khu 5, thị trấn H, L

dựn g xe ngoài đư ờng , trèo qua tư ờng v ào nhà đi tới khu vực chuồng g à nhà bà M bắt trộm 06 con g à (02 con trống, 04 con mái ), tổng trọng l ư ợng 13,4kg, bỏ v ào bì xác rắn đ ã chuẩn bị sẵn rồi xách b

ì gà theo đư ờng cũ tr èo ra ngoài. Sau khi trộm cắp g à nhà bà M, L tiếp tục tr èo qua tư ờng r ào vào nhà bà Lê Thị L , sinh năm 1953 (hàng xóm nhà bà M) đi đến khu v ực chuồng g à phía sau nhà bà L bắt 09 con g à (05 con trống, 04 con mái), tổng trọng l ư ợng 23kg rồi bỏ v

ào bì xác rắn c ùng với số g à vừa trộm cắp của nh

à bà M. Sau đó, L trèo tư ờng ra ngo ài, để b ì gà lên giỏ chiếc xe đạp vừa trộm cắ

p rồi đạp xe tới khu vực chợ L bán hết số g à trên cho một ng ư ời phụ nữ kh

ông biết t ên, tuổi, địa chỉ với

số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng).

Toàn bộ số ti ề n bán gà và xe đạp trên, L sử dụng vào việc mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Chiếc xe đạp trộm cắp nh à chị H , L đem về nh à sửa chữa d ùng làm phương tiện đi lại .

Tại bản kết luận định giá t

ài sản số 04/HĐĐG ngày 22/01/2021 của Hội đồng định giá t ài sản trong tố tụn g hình sự kết luận:

01 xe đạp mini đ ã cũ , khung xe màu xanh da trời đ ã bị hoen rỉ, có giá trị l à 500.000 đồng .

Tại bản kết luận định giá t

ài sản số 20/HĐĐG ngày 05/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h

ình sự kết luận: 01 xe đạp mini khung xe

màu xanh lá cây, rọ xe màu đen (đã qua sử dụng), có giá trị l à 200.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá t

ài sản số 21/HĐĐG ngày 05/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h

ình sự kết luận: 0

5 con gà tổng trọng l ư ợng l à 12kg, tại thời điểm bị mất trộm có giá trị thành tiền là 720.000 đồng , tương ứng 60.000 đồng/ kg.

Tại bản kết luận định giá t

ài sản số 22/HĐĐG ngày 05/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h

ình sự kết luận: 09 con g

à tổng trọng l ư ợng l à 23kg, tại thời điểm bị mất trộm c

ó giá trị th ành tiền l à 1.610.000 đồng, t ương ứng 70.000 đồng/kg.

Tại bản kết luận định giá t

ài sản số 23/HĐĐG ng ày 05/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h

ình sự kết luận: 06 con g à tổng trọng l ư ợng l à 13,4kg, tại thời điểm bị mất trộm có g

iá trị th ành tiền l à 804.000 đồng, t ương

ứng 60.000 đồng/kg.

Tại bản kết luận định giá t

ài sản số 24/HĐĐG ng ày 05/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng h

ình sự kết luận: 11 con g

à tổng trọng l ư ợng l à 30kg, tại thời điểm bị mất trộm có giá trị

thành tiền l à 1.800.000 đồng, t ương ứng 60.000 đồng/kg.

Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 17/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H

à Trung, tỉnh Thanh Hóa đ ã truy tố bị cáo về tội

“Trộm cắp t ài sản” theo điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật H ình sự năm 2015.

Tại phi ên tòa, bị cáo thừa nhận h ành vi như cáo tr ạng đ ã truy tố. Đại diện Viện

kiểm sát nhân dân huyện H à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng dụng điểm g, khoản 2, Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1

, Điều 51 ; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật H ình sự năm 2015 , xử phạt bị cáo từ

36 đến 39 tháng tù .

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh

ư sau:

[1]. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về h

ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng

ư ời tiến h ành tố tụng v à cơ quan ti ến h ành tố tụng. Các h ành vi tố tụng, quyết định tố tụng của ng

ư ời tiến h ành tố tụng, c ơ quan ti ến h ành tố tụng đ ã thực hiện đúng với tr ình tự, thủ t ục, thẩm quyền v à hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng h ình sự.

[2]. Lời khai của bị cáo tại phi

ên toà phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, ph ù hợp với lời khai của

các bị hại , phù hợp với vật chứng thu giữ đ

ư ợc , đủ cơ s ở khẳng định : Vũ Văn L đã bốn lần thực hiện h

ành vi trộm cắp t ài sản, cụ thể: ngày 24/12/2020, trộ m cắ p tài sả n củ a nhà chị Đỗ Thị Hả i H, bà Mai Thị M, bà Lê Thị L vớ i tổ ng giá trị tài sả n trộ m cắ p theo đị nh giá là 2.614.000 đồ ng; ngày 13/12/2020 trộ m cắ p củ a gia đình anh Phạ m Thế H vớ i giá trị tài sả n theo đị nh giá là 720.000 đồ ng; ngày 18/12/2020 trộ m cắ p củ a gia đình bà Hồ Thị N vớ i giá trị tài sả n theo đị nh giá là 500.000 đồ ng; ngày 20/12/2020 trộ m cắ p củ a gia đình ông Trầ n Văn N vớ i giá trị tài sả n theo đị nh giá là 1.800.000 đồ ng. Trong bố n lầ n bị cáo trộ m cắ p tài sả n, có 3 lầ n số tiề n trộ m cắ p dư ớ i 2.000.000 đồ ng và mộ t lầ n trộ m cắ p trên 2.000.000 đồ ng. Mặ t khác, bị cáo là đố i tư ợ ng có hai tiền án: Tại bản án h ình sự s ơ th ẩm số 08/2016/HS-ST ngày 26/01/2016 bị cáo bị T òa án nhân dân huyện H à Trung xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp t

ài sản ; tại bản án H ình sự s ơ th ẩm số 47/2017/HS -ST ngày 22/8/2017 bị cáo bị T òa án nhân dân huyện H à Trung xử phạt 12 tháng t ù về tội Trộm cắp t ài sản. Cả hai bản án đ ều ch ưa đư ợc xóa án tích do b ị cáo mới chấp h ành hình phạt t ù, chưa ch ấp h ành phần bồi th ư ờng dân sự cho bị hại , nên cả bốn lần

bị cáo trộm cắp đều phạm tội “trộm cắp t

ài sản” . Tại bản án Hình sự s ơ th ẩm số 47/2017/HS - ST ngày 22/8/2017 bị cáo bị T òa án nhân dân huyện H à Trung áp dụng t ình tiết tăng nặng trách nhiệm h ình sự “tái phạm” n ên lần phạm tội n ày của bị cáo thuộc tr ư ờng hợp “tái phạm nguy hiểm ”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân

dân huyện H à Trung truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp t

ài sản” theo điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật H ình sự năm 2015 l à đúng ngư ời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo l à nguy hiểm cho x ã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu t

ài sản của ng ư ời khác, l àm mất trật tự trị an tr

ên địa b àn huyện. Bị cáo l à đối t ư ợng đã hai lần bị kết á n và một lần bị xử phạt h

ành chính: ngày 02/8/2015, bị cáo bị Công an x ã Hà Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm h

ành chính về h ành vi trộm cắp t ài sản , bị cáo chư a chấp h ành quyết định n ày, nhưng đã hết thời hiệu thi h ành quyết định xử phạt vi phạm h ành chính để đ ư ợc coi l à chưa b ị xử lý h ành chính. Tuy nhiên, điều đó cho thấy bị cáo có nhân thân rất xấu v à bản chất khó cải tạo.

Mặt khác, bị cáo 4 lần trộm cắp t

ài sản là tình tiết tăng nặng trách nhiệm h ình sự theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ lu ật h ình sự . Vì vậy , phải cách ly khỏi đời sống x

ã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe ph

òng ngừa chung.

Bị cáo đư ợc h ư ởng t ình tiết giảm nhẹ trách nhiệm h

ình sự là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 , Điều 51 Bộ luậ t Hình sự 2015 . Cần áp dụng t ình tiết n ày để giảm một phần h ình phạt cho bị cáo.

Đối với n hững ng ư ời mua g à của Vũ Văn L , quá trình điều tra không xác định đ ư ợc tên, tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng, n

ên không có căn cứ để xử lý

trong vụ án.

[3]. Về bồi thư ờng thiệt hại:

Bà Lê Thị L yêu cầu bị cáo phải bồi th

ư ờng số tiền 1.610.000 đồng , anh Phạm Thế H yêu cầu bị cáo phải bồi th

ư ờng số

tiền 720.000 đồng, b à Đỗ Thị L yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 250.000 đồng.

Yêu cầu của b à L, anh H là có căn cứ v à đúng quy định nên đư ợc chấp nhận . Bà Đỗ Thị L không biết chiếc xe đạp l à tài sản trộm cắp m à có nên đã mua của bị cáo với giá

250.000 đồng , chiếc xe đ ã thu hồi trả lại cho bị hại, nay b

à L yêu cầu bị cáo phải bồi th

ư ờng số tiền này, bị cáo phả i có nghĩa vụ trả cho b à L. Ông Trần Văn N, bà Hồ Thị N , bà Mai Thị M, chị Đỗ Thị Hải H

vắng mặt tại phi ên tòa, tuy nhiên trong đơn đ ề nghị xét xử vắng mặt

ông N, bà M, bà N và chị H , không yêu cầu bị cáo phải bồi th

ư ờng n ên miễn xét

[4]. Về vật chứng

: Chiếc xe đạp mini khung xe m àu xanh da trời là tài sản hợp pháp của b à Hồ Thị N ; Chiếc xe đạp mini khung xe m àu xanh lá cây là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị Hải H

nên cơ quan c ảnh sát điều tra công an huyện H à Trung đã trả lại ch o bà N và chị H là đúng quy định . Đối với số g

à bị cáo trộm cắp,

quá trình điều tra không thu hồi lại đ ư ợc .

[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

.

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm g, khoản 2, Điều 173; Điều 38; điể m s khoản 1, Điều 51 ; điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật H ình sự.

1. Về tội danh: Bị cáo

Vũ Văn L phạm tội “Trộm cắp t

ài sản” .

2. Về h ình phạt: Xử phạt bị cáo

Vũ Văn L 39 (Ba mươi chín ) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày bị cáo bị bắ t để tạm giam là ngày 22/01/2021.

3. Về bồi th ư ờng: Căn cứ Điều 584 , 585, 589, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Vũ Văn lực p

hải bồi th ư ờng cho b à Lê Thị L số tiền 1.610.000đ (Một triệu sáu trăm m ư ời ngh ìn đồng) ; bồi th ư ờng cho anh Phạm Thế H

số tiền 720.000 đồng (Bảy trăm hai m ươi ngh ìn đồng ); bồi th ư ờng cho b à Đỗ Thị L 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngh ìn đồng) .

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật v

à bà Lê Thị L , anh Phạm Thế H , bà Đỗ Thị L có yêu cầu thi h ành án, nếu ch ưa t hi hành án, bị cáo c òn phải chịu th êm khoản tiền l ãi trên số tiền v à thời gian ch ưa thi hành án. Kho ản tiền l ãi chậm thi h ành án đư ợc tính bằng 50% mức l

ãi suất giới hạn quy định tại Khoản 1, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điề

u 136 Bộ luật tố tụng H

ình sự; Điều 6, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ng

ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Vũ Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ th ẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự s ơ th ẩm .

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng

ày kể từ ng ày tuyên án, các bị hại , ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li

ên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng ày kể từ ng ày nhận đư ợc bản án hoặc bản án đư ợc tống đạt hợp lệ .

Trư ờng hợp bản án đ

ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật Thi h ành án Dân sự th ì ngư ời đư ợc thi h ành án dân sự, ng ư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thoả thuận thi h

ành án, quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡn g chế thi h ành án theo quy định tại các Điều 6, 7 v à 9 Luật Thi h ành án Dân sự; thời hiệu thi h

ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h

ành án Dân sự.

Cỡ chữ