- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Th ly hôn anh Lang Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2026/ST - HNGĐ Ngày 23/01/2026. V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương, Bà Trần Hải Yến
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà- Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2025/TLST - HNGĐ ngày 12/11/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1989
Bị đơn: Anh Lang Văn V, sinh năm 1988
Cùng có địa chỉ: Bản K N, xã M T, tỉnh Nghệ An.
Chị Th có mặt, anh V vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị với anh Lang Văn V kết hôn với nhau vào ngày 05/01/2012 tại Ủy ban nhân dân xã M Đ, huyện C C (nay là xã M T), tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2023 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp, anh V thường xuyên xúc phạm, đánh đập chị, chị và anh V đã ly thân từ tháng 7 năm 2023 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh V thực sự không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Lang Văn V.
Về con chung: Chị và anh Lang Văn V có 02 người con chung với nhau là Lang Thuận P, sinh ngày 15/6/2020 và Lang Thị Kim B sinh ngày 01/7/2023. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 người con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị và anh Lang Văn V không nợ một tổ chức hay cá nhân nào.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh Lang Văn V đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Nguyễn Thị Th ly hôn anh Lang Văn V. Giao con chung là Lang Thuận P, sinh ngày 15/6/2020 và Lang Thị Kim B sinh ngày 01/7/2023 cho chị Nguyễn Thị Th nuôi dưỡng, về tài sản chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu nên không xem xét, chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ tại xã M T, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 15/01/2026 bị đơn anh Lang Văn V vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã niêm yết Quyết định hoãn phiên, trong Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án có ấn định thời gian mở lại phiên tòa để anh V biết nhưng anh V vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Lang Văn V là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th và Lang Văn V kết hôn với nhau vào ngày 05/01/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Mậu Đức, huyện Con Cuông (nay là xã M T), tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Hôn nhân hợp pháp đúng quy định của pháp luật. Quá trình chung sống do các bên không biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, anh V không quan tâm, chăm lo đến gia đình và vợ, con. Theo chị Th việc vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả và vợ chồng đã ly thân từ tháng 7 năm 2023 đến nay. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Lang Văn V thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Th là có căn cứ.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Th và anh Lang Văn V có 02 người con chung với nhau là Lang Thuận P, sinh ngày 15/6/2020 và Lang Thị Kim B sinh ngày 01/7/2023. Nay ly hôn chị Th có nguyện vọng được nuôi các cháu Lang Thuận P và Lang Thị Kim B. Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự P triển tốt nhất cả về vật chất lẫn tinh thần. Như vậy nguyện vọng của chị Nguyễn Thị Th là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con, hơn nữa tại phiên tòa anh Lang Văn V vắng mặt. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho các cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Lang Thuận P và Lang Thị Kim B cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và hiện nay chị không nợ một tổ chức hay cá nhân nào. Nếu sau nay anh Lang Văn V có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Th ly hôn anh Lang Văn V.
Về con chung: Giao con chung là Lang Thuận P, sinh ngày 15/6/2020 và Lang Thị Kim B sinh ngày 01/7/2023 cho chị Nguyễn Thị Th nuôi dưỡng cho đến lúc cháu P và cháu B đủ 18 tuổi, trưởng thành. Sau khi ly hôn anh Lang Văn V có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000 tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 9, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0002583 ngày 12/11/2025. Chị Nguyễn Thị Th đã nộp đủ án phí ly hôn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND tỉnh NA; - VKSND Khu vực 9; - Phòng THADS Khu vực 9; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã M T; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |