vanban.org

Bản án 34/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc A 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc A - Cố ý gây thương tích. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HS-ST
Ngày 03-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoát và bà Nguyễn Thị Huê.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Dũng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị An - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2026/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026, đối với:

- Bị cáo: Phạm Ngọc A, sinh ngày 19/10/1986 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ 2A, phường Ph, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Ch và bà Trần Thị H (đã chết); vợ, con: chưa; tiền án: không; tiền sự: Ngày 02/6/2025, Công an phường Ch, tỉnh Hà Nam (cũ) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền về hành vi “Gây mất trật tự công cộng ở khu dân cư”. Đặc điểm nhân thân: Ngày 18/12/2002, Công an thị xã Ph (cũ) Quyết định khởi tố bị can về tội “Cướp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 13/5/2003, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam (cũ) Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố bị can về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; ngày 16/4/2023, Công an thành phố Ph (cũ) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền về hành vi mang xăng đổ vào trụ sở Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Ph, tỉnh Hà Nam (cũ). Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2025, chuyển tạm giam từ ngày 17/10/2025 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Thọ Tr, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ 1C, phường Ph, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Trần Thị Thanh H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc A và ông Trần Thọ Tr không quen biết và không có mâu thuẫn với nhau từ trước. Khoảng 22 giờ ngày 05/10/2025, ông Tr điều khiển xe mô tô đi đến phố H thuộc tổ 2A, phường Ph, tỉnh Ninh Bình thì thấy Ngọc A đang đứng trước cửa nhà ở dệ đường. Khi ông Tr điều khiển xe đến trước cửa số nhà 45 thì dừng xe để chỉnh lại khung kim loại được phủ lớp sơn màu vàng nhạt hình chữ nhật kích thước (31x29x0,4) cm, một cạnh hở 0,6 cm được uốn thành hai tai, mỗi tai dài 04 cm, tại hai tai có lỗ tròn đường kính 1,1cm, đặt phía trước trên nắp bình xăng xe mô tô thì Ngọc A đi bộ tiến về phía ông Tr, khi cách ông Tr khoảng 60cm, Ngọc A dùng chân kê chân vật ngã ông Tr xuống nền đường, rồi dùng chân đá 2-3 nhát vào mặt ông Tr khiến khung kim loại trên tay ông Tr rơi xuống nền đường. Ngọc A dùng tay phải nhặt khung kim loại giơ lên ngang đầu và cúi người đập 01 nhát theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, ông Tr dùng tay trái để đỡ thì khung kim loại trúng vào cánh tay trái và mắt bên phải của ông Tr làm vùng mắt bên phải của ông Tr bị chảy máu, cẳng tay trái bị thương. Lúc này, chị Trần Thị Thanh H đi qua, đến gần và thấy Ngọc A đang cầm khung kim loại, chị H hỏi “Làm sao thế ạ” thì không ai trả lời. Sau đó chị H thấy Ngọc A ném khung kim loại xuống nền đường đi bộ về nhà cách đó khoảng 15m, ông Tr bị thương và chỉ tay về hướng nhà Ngọc A nói “Chú bị thằng kia đánh”. Sau đó, ông Tr ngất đi, chị H gọi điện cho người thân của ông Tr và đưa ông Tr đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa H, tỉnh Ninh Bình.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 (một) khung kim loại hình chữ nhật, kích thước (31x 29 x 0,4) cm, một cạnh hở 0,6 cm được uốn thành hai tai, mỗi tai dài 04 cm, tại hai tai có lỗ tròn đường kính 1,1cm, khung kim loại được phủ lớp sơn màu vàng nhạt.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Ngọc A tại tổ 2A, phường Ph, tỉnh Ninh Bình, kết quả thu giữ: 01 (một) đôi dép nhựa, trên thân dép có nhiều lỗ nhỏ (tổ ong), cỡ dép XL, màu vàng nhạt đã qua sử dụng, mặt trên chiếc dép bên phải có một vết rách kích thước 03 cm.

Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 227/KLTTCT-TTPY ngày 10/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận:

“1. Các kết quả chính:

1.1. Kết quả khám giám định: Vết thương mi trên mắt phải.

1.2. Kết quả khám chuyên khoa.

Chấn thương: Vết thương mi trên mắt phải đã khâu, còn nề, ấn đau. Xuất huyết kết mạc mắt phải. Sưng nề, bầm tím mi mắt phải, gò má phải và sống mũi. Sây sát da sát phía trên cung mày phải. Cánh, cẳng bàn tay trái cố định bột…

1.3. Kết quả cận lâm sàng.

CT sọ não: Vỡ xoang hàm phải. Vỡ xương mũi; XQ cẳng tay trái: Gãy 1/3 giữa xương trụ (Hiện đang bột cánh- cẳng- bàn tay chưa đánh giá được chức năng).

2. Kết luận

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thọ Tr, sinh năm 1971 tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích. Do vật tày trực tiếp gây nên”.

Tại Bản Kết luận giám định sổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 345/KLTTCT-TTPY ngày 03/12/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Ninh Bình kết luận:

“1. Các kết quả chính:

1.1. Kết quả khám giám định (Đã giám định ngày 08/10/2025): Sẹo vết thương mi trên mắt phải; CT sọ não: Vỡ xương mũi, Vỡ xoang hàm phải.

1.2. Kết quả khám giám định bổ sung (Giám định ngày 27/11/2025)

1.2.1. Kết quả khám giám định.

Cẳng tay trái và đùi trái không tổn thương phần mềm.Vết thay đổi sắc tố da trán phải không có căn cứ xếp tỷ lệ (Do không có trong hồ sơ y tế).

1.2.1.1. Kết quả khám chuyên khoa

Chấn thương: Sẹo thương mi trên mắt phải. Vết thay đổi sắc tố da trán phải. Cẳng tay trái và đùi phải không tổn thương phần mềm.

1.2.2. Kết quả cận lâm sàng:

XQ cẳng tay trái: Gãy 1/3 giữa xương trụ trái đang can. Siêu âm Dopper mạc tay trái: Hệ động, tĩnh mạch không tổn thương. Điện não: Không có sóng bệnh lý.

2. Kết luận:

2.1. Kết luận giám định (8/10/2025): 16% (Mười sáu phần trăm).

2.2. Kết luận giám định bổ sung: 08% (Tám phần trăm).

2.3. Tổng tỷ lệ sau giám định bổ sung:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thọ Tr, sinh năm 1971, tại thời điểm giám định là 23% (Hai mươi ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích. Do vật tày trực tiếp gây nên”.

Cáo trạng số 115/CT-VKS-KV5 ngày 12/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố Phạm Ngọc A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Thọ Tr không có yêu cầu đề nghị gì nên không đặt ra xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 khung kim loại và 01 đôi dép.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bị hại ông Trần Thọ Tr có đơn đề nghị với nội dung: Ông xin vắng mặt tại phiên tòa, về trách nhiệm dân sự, không yêu cầu gì đối với bị cáo và đề nghị Tòa án xét xử bị cáo nghiêm minh đúng quy định của pháp luật. Đồng thời ông Tr không đề nghị nhận lại 01 khung kim loại.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc A đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và xác định Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo cho rằng nguyên nhân xảy ra vụ án là do bị hại chửi và đấm nhẹ bị cáo trước nên bị cáo không kìm chế được. Về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nặng. Lời nói sau cùng của bị cáo, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên đối đáp: Quá trình điều tra, các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thu thập khách quan, đầy đủ và đúng quy định của pháp luật, nội dung vụ án được xác định dựa trên kết quả điều tra và nguyên nhân xảy ra vụ việc được xác định là do bị cáo tức giận vô cớ. Bị cáo đã thành khẩn tuy nhiên thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”, hành vi phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, gây hậu quả làm tổn hại cho sức khoẻ của bị hại là 23%, bị cáo có nhân thân xấu do đó mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc A đã khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ cơ sở để kết luận: Phạm Ngọc A và ông Trần Thọ Tr không quen biết, không có mâu thuẫn từ trước. Do tức giận vô cớ, khoảng 22 giờ ngày 05/10/2025, tại phố H thuộc địa phận tổ 2A, phường Ph, tỉnh Ninh Bình, Phạm Ngọc A đã dùng hai chân đá 2-3 nhát vào mặt ông Tr, dùng tay phải cầm khung kim loại hình chữ nhật kích thước (31x29x0,4) cm đập một 01 nhát theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào cánh tay trái và vùng mắt phải của ông Tr gây thương tích tổn thương cơ thể của ông Tr tại thời điểm giám định là 23%.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Do vậy, hành vi của Phạm Ngọc A đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng có tiền sự và đặc điểm nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Trần Thọ Tr không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với 01 khung kim loại hình chữ nhật là tài sản hợp pháp của ông Trần Thọ Tr; 01 đôi dép nhựa là tài sản hợp pháp của Phạm Ngọc A. Ông Tr và bị cáo không nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại thực hiện quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc A 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/10/2025.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 khung kim loại và 01 đôi dép (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình ngày 13/01/2026).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ