vanban.org

Bản án 34/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Văn H.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H và Lê Văn T đều phạm tội “Tham ô tài sản”. Áp dụng hình phạt chính, xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn H và Lê Văn T - tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 353 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10-HẢI PHÒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HS-ST
Ngày: 28/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm trực tuyến gồm có:

* Tại điểm cầu trung tâm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Nghĩa.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sao Hôm và bà Đỗ Thị Ái Thương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Long - Kiểm sát viên.

* Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Duy Đạt, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Hải Phòng được phân công giúp việc cho Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại điểm cầu trung tâm.

Ông Trần Thăng Long – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng.

Ngày 28/4/2026, Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng mở phiên tòa trực tuyến công khai; điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng, điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam Phú Thái, Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hải Phòng để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2026/HSST ngày 12/02/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2026/QĐXXST-HS ngày 19/3/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2026/QĐ-TA ngày 03/4/2026; Quyết định phân công bổ sung người tiến hành tố tụng số 01/2026/QĐ-TA ngày 03/4/2026 và Thông báo thay đổi hình thức xét xử vụ án hình sự và bổ sung người tiến hành tố tụng số 66/2026/TB-TA ngày 03/4/2026 đối với các bị cáo:

1. HOÀNG VĂN H, sinh ngày 16/9/1987. Số CCCD: 034087000941. Nơi cư trú: Thôn C, xã B, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Con ông: Hoàng Văn H1; Con bà: Lê Thị X, sinh năm 1961. Vợ là: Trần Thị Th, sinh năm 1987 và có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2023. Tiền án , tiền sự: Không. Bị tạm giữ tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hải Phòng từ ngày 15/10/2025 đến ngày 24/10/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. LÊ VĂN T, sinh ngày 12/3/1986. Số CCCD: 030086015324. Nơi cư trú: Thôn M, xã L, thành phố Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lê Văn H2, sinh năm 1962; Con bà: Bùi Thị M, sinh năm 1967. Vợ là: Bùi Thị H3, sinh năm 1987 và có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hải Phòng từ ngày 15/10/2025 đến ngày 24/10/2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Bị hại: Công ty TNHH thương mại và vận tải xăng dầu HT(sau đây viết tắt là Công ty HT); địa chỉ: Số 8 Đặng K, phường L, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị B – Chức vụ: Giám đốc.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty TNHH MTV nhiên liệu hoàng không (SKYPEC). Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh T1 – Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê N – Trưởng phòng an ninh; địa chỉ: Số 6/1/135 H, phường B, thành phố Hà Nội.

- Chị Bùi Thị H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Minh Thành, xã lai Khê, thành phố Hải Phòng.

* Người làm chứng: Bùi Quang Ph, Bùi Quang T2.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị xét xử vắng mặt; những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/8/2024, Hoàng Văn H ký kết hợp đồng lao động chính thức, là lái xe cho Công ty HT, công việc H phải làm là thực hiện nhiệm vụ vận tải, có nghĩa vụ chịu trách nhiệm vật chất về tài sản của Công ty được giao, nếu để mất mát hoặc hư hỏng phải bồi thường 100% giá trị tài sản nếu do lỗi chủ quan của cá nhân gây ra. Công ty HT ký hợp đồng nhận vận chuyển nhiên liệu hàng không Jet A-1 thuê cho Công ty TNHH MTV nhiên liệu hàng không Việt Nam (SKYPEC), phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về số lượng và chất lượng hàng hoá trong quá trình vận chuyển. H được Công ty HT giao nhiệm vụ vận chuyển dầu Jet A-1 của Công ty hàng không Việt Nam từ các kho thuộc thành phố Hải Phòng đi các địa điểm khác nhau. H cùng với đại diện Công ty HT ký bản cam kết với Công ty hàng không Việt Nam có nội dung: Nghiêm cấm lái xe tự thực hiện hoặc tham gia hoặc để cho người khác can thiệp bất hợp pháp vào số lượng, chất lượng nhiên liệu; Lái xe tuyệt đối không có các hành vi tự ý phá dỡ niêm phong kẹp chì bằng bất kỳ hình thức nào.

Quá trình vận chuyển dầu Jet A-1 đi theo tuyến đường Quốc lộ 5A, H hay đỗ xe tại quán bán đồ uống ở rìa đường của gia đình Lê Văn T thuộc thôn M, xã L, thành phố Hải Phòng để vào uống nước nên quen biết T và biết T có thu mua các loại dầu. Đầu tháng 10/2025, H hỏi T: “Em có dầu Jet A-1 lấy của Công ty thì anh có lấy không?”; khi nghe H nói như vậy thì T hiểu H chiếm đoạt dầu của Công ty thuê H vận chuyển đem bán lại cho T, T hứa hẹn nếu H có dầu chiếm đoạt được từ quá trình vận chuyển thì báo trước để T thu mua với giá 14.000 đồng/lít. Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 15/10/2025, theo sự điều động của Công ty HT, H điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 15C-220.56, kéo sơ mi rơ moóc xi téc biển số 15RM-026.09 của Công ty HT đến kho Thượng Lý thuộc phường Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tiếp nhận 43.870 lít dầu Jet A-1 của Công ty hàng không Việt Nam vận chuyển đến thành phố Hà Nội giao hàng cho kho dầu T2, sân bay Nội Bài. Trên đường vận chuyển dầu theo Quốc lộ 5A, H sử dụng điện thoại di động Iphone 16 Pro Max của H gọi đến điện thoại di động Iphone 12 Promax của T nói với T là H có dầu bán. Lúc này, T hiểu là H có thể chiếm đoạt được dầu từ xi téc ra bán lại cho T, T đồng ý mua và hẹn gặp H tại quán bán đồ uống của T. Khoảng gần 12 giờ cùng ngày, H điều khiển xe ô tô đầu kéo, kéo sơ mi rơ moóc xi téc chứa dầu Jet A-1 đi đến khu vực quán bán đồ uống của T, dừng xe sát lề đường bên phải, chiều đường Hải Phòng đi Hà Nội, song song với xe ô tô tải biển số 34C-242.82 do T điều khiển đang đỗ chờ sẵn. Trên thùng xe ô tô tải biển số 34C-242.82 có 02 thùng nhựa, trong đó thùng nhựa thứ nhất chứa 220,45 lít dầu, thùng nhựa thứ hai đã chứa đầy dầu gồm 987,846 lít do T mua gom trước đó của nhiều người không rõ địa chỉ. Lúc này, H xuống xe bảo bán cho T 300 lít dầu Jet A-1 rồi dùng tay phá kẹp chì của van mở ống xi téc chứa dầu, T đưa cho H một đầu ống nhựa lắp vào van xả xi téc, đầu ống nhựa còn lại T để vào thùng nhựa đựng dầu thứ nhất trên xe ô tô tải. Sau đó, H mở van xả xi téc cho dầu Jet A-1 chảy sang thùng nhựa. Hồi 12 giờ cùng ngày, khi dầu Jet A-1 trong xi téc chảy sang thùng nhựa được 305 lít, H và T chuẩn bị rút ống nhựa ra thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 niêm chì bằng nhựa màu trắng, có dây chì bằng kim loại; 01 xe ô tô tải biển số 34C-242.82, bên trong thùng xe có 02 thùng nhựa chứa chất lỏng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển số 34C-242.82 cùng giấy chứng nhận kiểm định và giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc dân sự của xe.

Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã Lai Khê ngày 28/10/2025, kết luận: 305 lít dầu Jet A-1 trị giá 6.011.550 đồng.

Ngày 15/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng quản lý chiếc điện thoại di động Iphone 16 Pro Max, lắp 01 sim và chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax, lắp 01 sim do H và T giao nộp. Đối với xe ô tô đầu kéo biển số 15C-220.56, kéo sơ mi rơ moóc xi téc biển số 15RM-026.09; ngày 15/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã tiến hành lấy mẫu và đo đạc xác định thể tích dầu Jet A-1 chứa trong xi téc bị thiếu hụt là 305 lít, ngay sau đó đã bàn giao lại cho đại diện Công ty HT quản lý. Ngày 20/01/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng trả lại T thùng nhựa chứa 987,846 lít dầu; T đã bán số dầu này thu được số tiền 14.817.000 đồng. Đối với 01 niêm chì bằng nhựa màu trắng, có dây chì bằng kim loại được niêm phong trong 01 phong bì; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển số 34C-242.82 cùng giấy chứng nhận kiểm định và giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc dân sự của xe hiện đang quản lý tại hồ sơ vụ án. Xe ô tô tải biển số 34C-242.82 và 01 thùng nhựa chứa 525,45 lít dầu, trong đó có 305 lít dầu Jet A-1 bị chiếm đoạt hiện đang quản lý tại Xí nghiệp kho vận xăng dầu K132.

Ngày 10/3/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hải Phòng có Công văn số A618/CSHS-Đ3B đề nghị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường Công an thành phố Hải Phòng nghiên cứu xem xét về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn T về hành vi mua bán 1.208, 296 lít dầu (được tích trữ trong thùng nhựa ký hiệu 01 và 02) và tịch thu số tiền 14.817.000 đồng do Tuân đã bán 987,846 lít dầu mà có.

Đối với 305 lít dầu Jet A-1 do H và T chiếm đoạt bị pha lẫn với loại dầu khác, không sử dụng làm nhiên liệu hàng không được, H đã tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại cho Công ty HT số tiền 5.795.000 đồng, đại diện hợp pháp của Công ty HT không yêu cầu khoản bồi thường nào khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hoàng Văn H.

Trong vụ án này, khi Lê Văn T sử dụng xe ô tải vào việc phạm tội thì chị Bùi Thị H3 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng không đặt ra việc xử lý đối với chị H3.

Tại bản Cáo trạng số 56/CT – VKSKV10 ngày 09/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Hải Phòng đã truy tố Hoàng Văn H và Lê Văn T đều về tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Các bị cáo đều thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Bị hại (Công ty HT) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Công ty TNHH MTV nhiên liệu hàng không) đều đề nghị Toà án án xét xử vắng mặt; xác định các bên đã thỏa thuận xong về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu đề nghị gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị H3 xin xét xử vắng mặt, xác định chiếc xe ô tô 34C-242.82 là tài sản chung vợ chồng của chị và bị cáo T, đề nghị được nhận lại chiếc xe ô tô nêu trên.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo. Đề nghị tuyên bố: Hoàng Văn H và Lê Văn T đều phạm tội “Tham ô tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1, 6 Điều 353; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2017. Điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí. Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

+ Điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn H.

- Xử phạt:

+ Hoàng Văn H từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/4/2026.

+ Lê Văn T từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/4/2026.

Giao bị cáo Hoàng Văn H cho UBND xã B, tỉnh Hưng Yên; giao bị cáo Lê Văn T cho UBND xã L, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành thử thách của án treo.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối theo quy định tại khoản 5 Điều 353 của Bộ luật hình sự.

- Xử lý vật chứng: Chuyển các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra lưu giữ trong hồ sơ vụ án sang Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Hải Phòng để đảm bảo cho việc xử lý vật chứng trong vụ án bao gồm: 01 phong bì bên trong phong bì là kẹp chì vụ tham ô tài sản; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 056678, biển số xe 34C-242.82 mang tên Thái Việt T3; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô Thái Việt T3; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới xe ô tô biển số xe 34C – 242.82.

+ Tịch thu phát mại chiếc xe ô tô tải biển số 34C-242.82; sung ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô, trả lại ½ giá trị chiếc xe cho chị Bùi Thị H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn M, xã L, thành phố Hải Phòng.

+ Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 525,45 lít dầu JetA-1 chứa trong 01 thùng nhựa; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax.

+ Tịch thu cho tiêu hủy 01 kẹp chì (trong phong bì niêm phong có tại hồ sơ vụ án); 01 sim điện thoại số 0988111587; 01 sim điện thoại số 0983114232.

- Về án phí: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an Hải Phòng; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Đã có đủ căn cứ kết luận: Hoàng Văn H là lái xe của Công ty TNHH thương mại và vận tải xăng dầu HT, công việc H phải làm là thực hiện nhiệm vụ vận tải, có quyền và trách nhiệm quản lý hàng hóa trong quá trình vận chuyển, không được để cho người khác hoặc tự mình can thiệp bất hợp pháp vào chất lượng, số lượng hàng hóa. Khoảng gần 12 giờ ngày 15/10/2025, tại Quốc lộ 5, chiều đường Hải Phòng đi Hà Nội thuộc địa phận thôn M, xã L, thành phố Hải Phòng; lợi dụng quyền quản lý hàng hóa sau khi được Công ty TNHH thương mại và vận tải xăng dầu HT giao điều khiển xe ô tô đầu kéo, kéo sơ mi rơ moóc xi téc chở dầu Jet A-1 đi từ thành phố Hải Phòng đến sân bay Nội Bài giao hàng. Do có sự thỏa thuận, hứa hẹn với nhau từ trước, H đã cùng với Lê Văn T đã xả 305 lít dầu Jet A-1trị giá 6.011.550 đồng từ xi téc mà H được giao vận chuyển bán cho Lê Văn T để lấy tiền tiêu sài vào mục đích cá nhân.

Hành vi của các bị cáo Hoàng Văn H và Lê Văn T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1, 6 Điều 353 của Bộ luật hình sự.

Đánh giá vị trí, vai trò; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Đây là vụ án có yếu tố đồng phạm, các bị cáo đều cố ý cùng thực hiện tội phạm, trong vụ án này: Hoàng Văn H là người khởi xướng, thực hành tích cực nên giữ vai trò chính, Lê Văn T là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực. Bị cáo cố ý thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản được giao quản lý; hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội và làm ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động của doanh nghiệp.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Cả 2 bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo H và T đều có thái độ khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo H thỏa thuận bồi thường xong về toàn bộ trách nhiệm dân sự với Công ty HT nên bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Bồi thường thiệt hại” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H được Công ty HT xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo T được UBND xã L, thành phố Hải Phòng xác nhận đã tích cực tham gia ủng hộ Quỹ đền ơn đáp nghĩa với số tiền 2.000.000 đồng nên cả 02 bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét: Cả 02 bị cáo đều có nhân thân tốt, là người lao động lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giá trị tài sản chiếm đoạt trong vụ án không lớn. Do vậy, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao 02 bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Do cả 02 bị cáo đều không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 353 của Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng:

- Các tài liệu, chứng cứ dơ Cơ quan cảnh sát điều tra lưu giữ trong hồ sơ vụ án gồm: 01 phong bì bên trong phong bì là kẹp chì vụ tham ô tài sản; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 056678, biển số xe 34C-242.82 mang tên Thái Việt T3; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô Thái Việt T3; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới xe ô tô biển số xe 34C – 242.82. Cần chuyển các tài liệu, chứng cứ này sang Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Hải Phòng khi bản án có hiệu lực pháp luật để đảm bảo cho việc xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Xác định xe ô tô tải biển số 34C-242.82 là tài sản hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân giữa bị cáo Lê Văn T và chị Bùi Thị H3 và bị cáo T đã sử dụng chiếc xe ô tô này làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Do chị H3 không biết bị cáo T sử dụng chiếc xe ô tô này vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu phát mại chiếc xe ô tô tải biển số 34C-242.82; ½ giá trị chiếc xe ô tô nêu trên sung ngân sách nhà nước, ½ giá trị chiếc xe trả lại cho chị Bùi Thị H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn M, xã L, thành phố Hải Phòng.

- Đối với 525,45 lít dầu JetA-1, trong đó có 305 lít dầu các bị cáo chiếm đoạt của Công ty HT; 220,45 lít dầu còn lại và 987,846 lít dầu do bị cáo T thu mua của nhiều người không rõ địa chỉ. Do 987,846 lít dầu đã được Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo T và bị cáo đã bán số dầu trên được số tiền 14.817.000 đồng nên ngày 10/3/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hải Phòng có Công văn số A618/CSHS-Đ3B đề nghị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu và môi trường Công an thành phố Hải Phòng nghiên cứu xem xét về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn T về hành vi mua bán 1.208, 296 lít dầu (được tích trữ trong thùng nhựa lý hiệu 01 và 02) và tịch thu số tiền 14.817.000 đồng do T đã bán 987,846 lít dầu mà có nên không đặt ra giải quyết. Đối với 525,45 lít dầu còn lại chứa trong 01 thùng nhựa là vật chứng thu giữ trong vụ án, cần tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước.

(Chiếc xe ô tô tải biển số 34C-242.82 và 525,45 lít dầu JetA-1 chứa trong 01 thùng nhựa hiện đang được quản lý tại Xí nghiệp kho vận xăng dầu K132, địa chỉ: Thôn Địch Tràng, xã Tuệ Tĩnh, thành phố Hải Phòng).

- Đối với 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Promax thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax thu giữ của H. Do các bị cáo sử dụng các điện thoại này làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cho tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước.

- 01 kẹp chì (trong phong bì niêm phong có tại hồ sơ vụ án) là vật chứng trong vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.

- 01 sim điện thoại số 0988111587; 01 sim điện thoại số 0983114232 các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội không còn số dư VNĐ trong tài khoản. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có Công văn đề nghị Công ty viễn thông quân đội thu hồi số sim này, nên cho tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại nêu trên.

Án phí: Các bị cáo đều bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Khoản 1, 6 Điều 353; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; điểm a, b khoản 1 và khoản 2 Điều 47; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2017. Điểm a, b khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí. Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Điều 92 Luật thi hành án hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn H và Lê Văn T.

Điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Hoàng Văn H.

2. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn H và Lê Văn T đều phạm tội “Tham ô tài sản”.

3. Áp dụng hình phạt chính, xử phạt:

3.1 Hoàng Văn H 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/4/2026.

3.2 Lê Văn T 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/4/2026.

Giao bị cáo Hoàng Văn H cho UBND xã B, tỉnh Hưng Yên; giao bị cáo Lê Văn T cho UBND xã L, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Xử lý vật chứng:

- Chuyển các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan cảnh sát điều tra lưu giữ trong hồ sơ vụ án sang Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – Hải Phòng khi bản án có hiệu lực pháp luật để đảm bảo cho việc xử lý vật chứng trong vụ án bao gồm: 01 phong bì bên trong phong bì là kẹp chì vụ tham ô tài sản; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 056678, biển số xe 34C-242.82 mang tên Thái Việt T3; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô Thái Việt T3; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới xe ô tô biển số xe 34C – 242.82.

- Tịch thu phát mại chiếc xe ô tô tải biển số 34C-242.82; sung ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe, ½ giá trị chiếc xe còn lại trả lại cho chị Bùi Thị H3, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn M, xã L, thành phố Hải Phòng.

- Tịch thu phát mại sung ngân sách nhà nước 525,45 lít dầu JetA-1 chứa trong 01 thùng nhựa; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 12 Promax; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Promax.

(Chiếc xe ô tô tải biển số 34C-242.82 và 525,45 lít dầu JetA-1 chứa trong 01 thùng nhựa hiện đang được quản lý tại Xí nghiệp kho vận xăng dầu K132, địa chỉ: Thôn Địch Tràng, xã Tuệ Tĩnh, thành phố Hải Phòng).

- Tịch thu cho tiêu hủy 01 kẹp chì (trong phong bì niêm phong có tại hồ sơ vụ án, được chuyển sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Hải Phòng khi bản án có hiệu lực pháp luật); 01 sim điện thoại số 0988111587; 01 sim điện thoại số 0983114232.

(Số lượng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/03/2026 giữa Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Hải Phòng và Phòng thi hành án dân sự khu vực 10-Hải Phòng).

5. Án phí: Các bị cáo Hoàng Văn H và Lê Văn T mỗi bị cáo đều phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; có mặt các bị cáo, vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho các bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án; người bị hại được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ