- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Quốc T - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2026/HS-PT Ngày: 15-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Các Thẩm phán: Ông Văn Thanh Gia
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Khánh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2026/TLPT-HS ngày 02 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Ngô Quốc T do có kháng cáo của bị cáo Ngô Quốc T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2026/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Ngô Quốc T, sinh ngày 12/6/1996 tỉnh Gia Lai; Số căn cước công dân: 064096010566; Nơi ĐKHKTT: Số A T, tổ C, phường P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Văn L, sinh năm: 1970 và bà Đặng Thị Thanh T1, sinh năm: 1971; Vợ: Đỗ Thị L1, sinh năm: 1993, con: có 01 con, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Quốc T trước đây là nhân viên lái xe chở hàng cho Công ty TNHH MTV T4 tại số C đường H, Tổ A, phường A, tỉnh Gia Lai, nên biết được chỗ chị Phan Thị Phương T2 (sinh năm 1988, trú tại 3 đường N, phường P) là kế toán của Công ty, cấu giấu chìa khóa kho của Công ty.
Vào khoảng 01 giờ ngày 19/7/2025, T điều khiển xe mô tô biển số 77S3 - 5448 đi một mình từ nhà đến Công ty TNHH T5 – địa chỉ C đường H, phường A với mục đích để trộm cắp tài sản. Lợi dụng đêm khuya không có người trông coi, nên T đã lén lút chui qua lỗ hổng của cửa nhà rồi vào trong kho đến chố chị T2 cất giấu chìa khóa, lấy chìa khóa mở kho rồi lấy trộm các tài sản, gồm: 01 bình năng lượng mặt trời B ôn Inox 18 ống F058 180lít, nhãn hiệu Sentinel Gald; 01 giá đỡ ống thủy tinh Inox, nhãn hiệu Sentinel Gald; 01 bộ chân Inox ống hộp Sentinel mẫu mái bằng 18 ống F058; 16 ống chân không Hitech F5881800 (G), tất cả đều có nhãn hiệu Sentinel S. Sau đó, T dùng xe mô tô biển số 77S3 - 5448 chở số tài sản trên về nhà cất giấu. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T thuê xe ô tô tải (không rõ biển số và người điều khiển) chở số tài sản trên đến cửa hàng buôn bán đồ gia dụng “Thảo Nguyên” tại số D đường T, xã I, tỉnh Gia Lai, bán cho ông Trần Đức N (sinh năm 1985, trú tại Tổ F, phường T, tỉnh Gia Lai) được 3.600.000 đồng. T lấy 150.000 đồng trong số tiền đã bán tài sản trộm cắp được trả tiền công xe chở, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 21/7/2025 Ngô Quốc T đến Công an phường A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Qua định giá, tại bản kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS ngày 28/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai, kết luận:
- 01 bình Bảo ôn Inox 18 ống F58 180 lít, nhãn hiệu Sentinel Gald, tài sản chưa qua sử dụng có trị giá 3.700.000 đồng.
- 01 giá đỡ ống thủy tinh Inox nhãn hiệu Sentinel Gold, tài sản chưa qua sử dụng có trị giá 530.000 đồng.
- 01 bộ chân Inox ống hộp, nhãn hiệu Sentinel mẫu mái bằng 18 ống F058, tài sản chưa qua sử dụng có trị giá 1.373.333 đồng.
- 16 ống chân không Hitech F58 (gold), tài sản chưa qua sử dụng, có trị giá 2.213.328 đồng.
Tổng trị giá tài sản mà Ngô Quốc T chiếm đoạt là 7.816.661 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- Đối với 01 Bình Bảo ôn Inox 18 ống F058 180 lít, nhãn hiệu Sentinel Gald; 01 giá đỡ ống thủy tinh Inox nhãn hiệu Sentinel Gol; 01 bộ chân Inox ống hộp, nhãn hiệu Sentinel mẫu mái bằng 18 ống; 16 ống chân không Hitech F058 (gold) Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại tài sản cho bà Phan Thị Phương T2 đại diện Công ty TNHH T4.
- 01 xe mô tô biển số 77S3-5448 nhãn hiệu Honda, màu đen, số máy: HAE2078420, số khung: HA20180479. Qua điều tra xác định là tài sản của ông Ngô Văn L là bố đẻ của T, T dùng xe mô tô này để thực hiện hành vi phạm tội, thì ông L hoàn toàn không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G xử lý trả cho ông L.
Về dân sự: Bà Phan Thị Phương T2 không yêu cầu bồi thường gì; ông Trần Đức N được Ngô Quốc T trả lại số tiền 3.600.000 đồng nên ông N cũng không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Ngô Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 23/01/2026 bị cáo Ngô Quốc T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Quốc T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau: Vì muốn có tiền tiêu xài, nên vào đêm ngày 19/7/2025 bị cáo Ngô Quốc T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 bình bảo ôn Inox 18 ống F058 180 lít, nhãn hiệu Sentinel Gald; 01 giá đỡ ống thủy tinh Inox nhãn hiệu Sentinel Gol; 01 bộ chân Inox ống hộp, nhãn hiệu Sentinel mẫu mái bằng 18 ống và 16 ống chân không Hitech F058 (gold) của Công ty TNHH MTV T4 ở số C đường H, tổ A, phường A, tỉnh Gia Lai. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt 7.816.661 đồng. Do đó, Toà án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai đã kết án bị cáo Ngô Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Ngô Quốc T, hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Ngô Quốc T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận biết quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý theo quy định pháp luật, nhưng chỉ vì hám lợi bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH MTV T4. Với toàn bộ diễn biến vụ án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 04 tháng tù là phù hợp, đủ sức răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác để xem xét theo nội dung đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Do đó, hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Quốc T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Quốc T.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T 04 (Bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Quốc T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐTCA tỉnh Gia Lai; - Cơ quan THAHS&HTTP Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan HSNV CA tỉnh Gia Lai; - TAND khu vực 7 – Gia Lai; - VKSND khu vực 7, tỉnh Gia Lai - Phòng THADS khu vực 7, tỉnh Gia Lai; - Phòng TT, KT & THA TAND tỉnh Gia Lai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hoài Xuân |