vanban.org

Bản án 34/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim T.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Đỗ Văn C. Con chung: Giao con chung tên Đỗ Lê Thái H, sinh ngày 22/9/2014 cho chị Lê Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị Lê Thị Kim T tự nguyện không yêu cầu anh Đỗ Văn C cấp dưỡng nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim Th - Đỗ Văn C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26-3-2026
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Yến Nhi. 2. Ông Trương Văn Phúc.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2025/TLST–HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim T, sinh năm 1983.

Nơi cư trú: số nhà F, ấp F, xã G, tỉnh Vĩnh Long.

Địa chỉ tạm trú: số nhà B, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1988.

Nơi cư trú: số nhà F, ấp F, xã G, tỉnh Vĩnh Long.

(Chị Lê Thị Kim T, anh Đỗ Văn C: vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị Kim T trình bày:

Chị và anh C tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 05/3/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên thường xuyên cự cãi. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên nhiều lần chị cố gắng hòa giải tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Chị và anh C sống ly thân từ tháng 5/2025 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh C, hôn nhân không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với anh C.

Chị và anh C có 01 con chung tên Đỗ Lê Thái H, sinh ngày 22/9/2014, hiện cháu H đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: chị T khai không có.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Đỗ Văn C vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Lê Thị Kim T.

Tại phiên tòa:

Chị Lê Thị Kim T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Anh Đỗ Văn C vắng mặt không có lý do.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

Về thủ tục: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa sơ thẩm là chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Về nội dung: Căn cứ quy định tại các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim T.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Đỗ Văn C.

Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Lê Thái H, sinh ngày 22/9/2014 cho chị Lê Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận chị Lê Thị Kim T không yêu cầu anh Đỗ Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Kim T khai không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Lê Thị Kim T phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục: Chị Lê Thị Kim T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Đỗ Văn C; anh C có nơi cư trú tại xã G, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long.

Tại phiên toà, nguyên đơn chị Thanh vắng M nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; riêng bị đơn anh C mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim T và anh Đỗ Văn C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 05/3/2014. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Kim T và anh Đỗ Văn C là hợp pháp. Chị T yêu cầu được ly hôn với anh C, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị T cho rằng, sau khi kết hôn chị và anh C chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cự cãi. Mặc dù chị T đã cố gắng tìm giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Hai bên đã ly thân từ tháng 5/2025 cho đến nay. Trong thời gian này, anh chị không tạo điều kiện và có những biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình tố tụng, chị T cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt. Đồng thời, anh C mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia các phiên hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa thể hiện việc không có thiện chí hàn gắn. Vì vậy, có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: chị T và anh C có 01 con chung tên Đỗ Lê Thái H, sinh ngày 22/9/2014, con chung đang sống với chị T. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, anh C không tranh chấp. Tại biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, cháu H có nguyện vọng được sống với chị T. Để ổn định về tâm lý, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống và phù hợp với nguyện vọng của con chung sau khi cha mẹ ly hôn nên việc giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết. Do đó, xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung: ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị T phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim T.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Kim T được ly hôn với anh Đỗ Văn C.

2. Con chung: Giao con chung tên Đỗ Lê Thái H, sinh ngày 22/9/2014 cho chị Lê Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị Lê Thị Kim T tự nguyện không yêu cầu anh Đỗ Văn C cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Đỗ Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị Kim T khai không có nên không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Lê Thị Kim T khai không có nên không xem xét giải quyết.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Lê Thị Kim T phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004849 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Vĩnh Long. Do đó, án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Lê Thị Kim T đã nộp xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ