vanban.org

Bản án 34/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T, cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Chị Trương Thị T ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về việc nuôi con: Giao cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng Y, sinh ngày 12/03/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 01/07/2019 cho đến khi thành niên hoặc đã thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Trương Thị T với Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 6 - 2026
“V/v Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Toan

2. Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2026/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 09/2026/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm 2000;

Địa chỉ thường trú: Thôn P, xã V, tỉnh Quảng Ngãi; hiện đang tạm trú tại: tổ A, khu phố K, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Làng T, phường A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 03 năm 2026, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trương Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai vào ngày 08/8/2019. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vợ chồng chị không hàn gắn được, đã sống ly thân. Hiện nay không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau, vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc nên không thể kéo dài cuộc sống chung với nhau được, do vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng Y, sinh ngày 12/03/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 01/07/2019, hiện nay 02 con chung đang ở với anh H. Ly hôn, chị đồng ý giao hai con chung cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên.

Về cấp dưỡng: Chị và anh H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn H mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án thông báo đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, nên đã không trình bày được quan điểm của anh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo, bị đơn không chấp hành và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H; giao cho anh Nguyễn Văn H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng Y, sinh ngày 12/03/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 01/07/2019 cho đến khi con thành niên; về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: chị Trương Thị T không yêu cầu nên không giải quyết. Chị Trương Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn chị Trương Thị Tình yêu cầu ly hôn, giải quyết nuôi con với anh Nguyễn Văn H; địa chỉ: Làng T, phường A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.

Nguyên đơn chị Trương Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T và anh H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai vào ngày 08/8/2019 theo đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn hôn nhân theo chị Trương Thị T trình bày sau khi kết hôn thì giữa chị và anh H đã bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vợ chồng vẫn mâu thuẫn gay gắt, đã sống ly thân thời gian dài. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú thì chị T và anh H không yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải nên chính quyền địa phương không biết mâu thuẫn của vợ chồng anh chị, nhưng chính quyền địa phương biết chị T và anh H đã sống ly thân. Bị đơn anh H mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến để tham gia hòa giải, phiên tòa nhưng anh H không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy chị T và anh H đã không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm lo lắng, chăm sóc cho nhau, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H như vậy là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về việc nuôi con: Chị T và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng Y, sinh ngày 12/03/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 01/07/2019, hiện nay 02 con chung đang sống cùng anh H, nguyện vọng của 02 cháu đều muốn ở với anh H; Xét thấy 02 con chung sống cùng anh H từ lúc anh H và chị T sống ly thân cho đến nay, anh H đang trong độ tuổi lao động, có công việc đảm bảo đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; nguyện vọng của 02 con đều muốn ở với anh H, chị T cũng đồng ý giao con chung cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên, anh H cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, thuận theo nguyện vọng của các con chung, giao con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng Y, sinh ngày 12/03/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 01/07/2019 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu thành niên và tự lập được là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T, cụ thể như sau:

1. Về hôn nhân: Chị Trương Thị T ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2. Về việc nuôi con: Giao cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Nguyễn Thị Hồng Y, sinh ngày 12/03/2018 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo B, sinh ngày 01/07/2019 cho đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002005 ngày 11 tháng 03 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Chị Trương Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 ,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Cỡ chữ