vanban.org

Bản án 34/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thúy K về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với ông Trần Khánh H.

Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị Thúy K được ly hôn với ông Trần Khánh H. 2 Nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Bảo N, sinh ngày 04/02/20xx cho bà Đỗ Thị Thúy K trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Khánh H phải cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng (Ba triệu đồng), hàng tháng cấp dưỡng vào ngày 11, bắt … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "A -B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thúy K về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với ông Trần Khánh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5-TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11-3-2026.
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Bỉ.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 119/2025/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thúy K, sinh ngày 29/01/20xx.

Căn cước công dân số:

Địa chỉ: Số 280/3 ấp X, xã T, tỉnh T. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Khánh H, sinh ngày 01/01/20xx.

Căn cước công dân số:

Địa chỉ: Số 246/6, ấp B, xã T, tỉnh T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Đỗ Thị Thúy K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện có nội dung như sau: Do quen biết, bà và ông Trần Khánh H được gia đình chấp nhận sống chung năm 2018 và có đăng ký kết hôn ngày 22/02/20xx tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh L. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2023 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H không lo làm ăn, không chăm lo gia đình. Bà và ông H không còn quan tâm và sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Bà thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Khánh H.

Nuôi con chung: Bà và ông H có con chung tên Trần Bảo N, sinh ngày 04/02/20xx. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi con, yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Nghĩa vụ trả nợ : Không có.

Bị đơn ông Trần Khánh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhưng tại bản trình bày ý kiến có nội dung như sau: Ông đồng ý ly hôn với bà Đỗ Thị Thúy K, do vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn.

Vợ chồng có con chung tên Trần Bảo N, sinh ngày 04/02/20xx. Sau khi ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng. Ông cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng.

Tài sản chung: Không có.

Nghĩa vụ trả nợ : Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đỗ Thị Thúy K có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh giải quyết ly hôn với ông Trần Khánh H; hiện ông Huy đang sinh sống tại xã T, tỉnh T nên đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn, vì nhận thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng vợ chồng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét, hôn nhân giữa bà K và ông H có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh L (nay là xã T, tỉnh T) cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/02/20xx, đây là hôn nhân hợp pháp, sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ông Huy có ý kiến đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà K. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đỗ Thị Thúy K.

Nuôi con chung: Bà K và ông H có con chung tên Trần Bảo N, sinh ngày 04/02/20xx. Sau khi ly hôn, bà K yêu cầu được nuôi con chung. Tại bản trình bày ý kiến cháu Bảo N có nguyện vọng sống chung với mẹ và ông H đồng ý giao con chung cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng của cháu Bảo N theo khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Trần Bảo N cho bà Đỗ Thị Thúy K trực tiếp nuôi dưỡng.

Cấp dưỡng nuôi con: Do bà K yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là nghĩa vụ của cả cha và mẹ. Khi chấm dứt quan hệ hôn nhân, giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, bên không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà K nuôi con, ông H phải cấp dưỡng. Ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà K, buộc ông H cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng.

Chia tài sản: Bà K xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nghĩa vụ trả nợ: Không có.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Kiều phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ông Hphải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thúy K về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với ông Trần Khánh H.

1. Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị Thúy K được ly hôn với ông Trần Khánh H.

2 Nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Bảo N, sinh ngày 04/02/20xx cho bà Đỗ Thị Thúy K trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Khánh H phải cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng (Ba triệu đồng), hàng tháng cấp dưỡng vào ngày 11, bắt đầu ngày 11/3/2026 cho đến khi có một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Bà Đỗ Thị Thúy K phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009969 ngày 29/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Bà K đã nộp đủ tiền án phí.

3.2 Ông Trần Khánh H phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con sung vào ngân sách nhà nước.

4. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án được cấp, tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ