vanban.org

Bản án 34/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Thị Bé Th, cho bà Tăng Thị Bé Th được ly hôn với ông Lâm Văn R.

Về con chung: Giao 02 con chung tên Lâm Nhật Minh H, sinh ngày 02/8/2018 và Lâm Ngọc Thảo V, sinh ngày 27/3/2016 cho ông Lâm Văn R trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do ông Ri không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà Tăng Thị Bé Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà kh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Thị Bé Th, cho bà Tăng Thị Bé Th được ly hôn với ông Lâm Văn R.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2026
V/v:“Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ánh Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lệ Hoa

2. Ông Hà Ứng Cương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chí Thăng- Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2026/QĐST- HNGĐ, ngày 07 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tăng Thị Bé Th, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp V, xã B, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Lâm Văn R, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp V, xã B, tỉnh An Giang.

(Bà Th có mặt tại phiên tòa, ông R vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Tăng Thị Bé Th trình bày:

Năm 2017, bà và ông Lâm Văn R thành lập gia đình và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang vào ngày 11/12/2017. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên Lâm Nhật Minh H, sinh ngày 02/8/2018 và Lâm Ngọc Thảo V, sinh ngày 27/3/2016. Về tài sản chung, không có. Về nợ chung, bà và ông R không có nợ ai và không ai nợ vợ chồng bà.

Về hôn nhân, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, dù vợ chồng bà đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Nay tại phiên toà bà có yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Lâm Văn R.

Về con chung: Bà đồng ý giao 02 con chung tên Lâm Nhật Minh H, sinh ngày 02/8/2018 và Lâm Ngọc Thảo V, sinh ngày 27/3/2016 cho ông Lâm Văn R chăm sóc nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 20/11/2025, bị đơn ông Lâm Văn R trình bày:

Ông và bà Tăng Thị Bé Th tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

Trong quá trình chung sống, ông và bà Th có 02 con chung là Lâm Nhật Minh H, sinh ngày 02/8/2018 và Lâm Ngọc Thảo V, sinh ngày 27/3/2016. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Thời gian đầu chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc; tuy nhiên, về sau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà Th khởi kiện yêu cầu ly hôn, anh có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Đồng ý ly hôn với bà Tăng Thị Bé Th.

Về con chung: Yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Lâm Nhật Minh H, sinh ngày 02/8/2018 và Lâm Ngọc Thảo V, sinh ngày 27/3/2016; anh tự nguyện không yêu cầu bà Thảo cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Tăng Thị Bé Th khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung với ông Lâm Văn R nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp Vg, xã B, tỉnh An Giang nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông Lâm Văn R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, tại phiên tòa bà Tăng Thị Bé Th đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.

[2] Về hôn nhân: Bà Tăng Thị Bé Th và ông Lâm Văn R được gia đình chấp nhận nên quyết định đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang, do đó quan hệ hôn nhân giữa bà Tăng Thị Bé Th và ông Lâm Văn R là hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà Tăng Thị Bé Th, trong thời gian đầu chung sống, bà và ông Lâm Văn R có thời gian hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp nên đã ly thân khoảng 04 năm nay. Tại phiên tòa, bà Tăng Thị Bé Th xác định hiện nay không còn tình cảm với ông Lâm Văn R và kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Tăng Thị Bé Th và ông Lâm Văn R đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tăng Thị Bé Th đối với ông Lâm Văn R theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà Tăng Thị Bé Th và ông Lâm Văn R có 02 con chung là Lâm Nhật Minh H, sinh ngày 02/8/2018 và Lâm Ngọc Thảo V, sinh ngày 27/3/2016. Bà Th đồng ý giao cả hai con chung cho ông Lâm Văn R trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, do từ khi vợ chồng ly thân đến nay các cháu đều do ông R trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Xét thấy, tại bản tự khai ngày 20/11/2025, ông Lâm Văn R tự nguyện xin được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà Th cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao 02 cháu Lâm Nhật Minh H, sinh ngày 02/8/2018 và Lâm Ngọc Thảo V, sinh ngày 27/3/2016 cho ông Lâm Văn R trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Lâm Văn R không yêu cầu bà Tăng Thị Bé Th cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tăng Thị Bé Th và ông Lâm Văn R trình bày trong quá trình chung sống, ông bà không có tài sản chung, cũng như không phát sinh nợ chung, do đó không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận xem xét.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Tăng Thị Bé Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Thị Bé Th, cho bà Tăng Thị Bé Th được ly hôn với ông Lâm Văn R.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Lâm Nhật Minh H, sinh ngày 02/8/2018 và Lâm Ngọc Thảo V, sinh ngày 27/3/2016 cho ông Lâm Văn R trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do ông Ri không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Tăng Thị Bé Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Tăng Thị Bé Th phải nộp tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002848 ngày 02/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - An Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ