vanban.org

Bản án 34/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ B Kbuôr được ly hôn với anh Y T Niê.

Về nuôi con chung: Giao cháu H N Kbuôr, sinh ngày 05/9/2016 cho chị H’ B Kbuôr trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Y T Niê được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, anh Y T Niê không được lạm dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nguyên nhân khác — án hôn nhân và gia đình — "H B Kbuôr- Y T Niê"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ B Kbuôr được ly hôn với anh Y T Niê.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HNGĐ-ST
Ngày 27-05-2026
“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Dương Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mó Măng, nghề nghiệp: Nguyên là cán bộ Hội phụ nữ xã Ea Hiu (nay là xã Ea Phê)

2. Ông Hồ Thành, nghề nghiệp: Giáo viên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhị - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nguyên - chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 07/2026/TLST

- HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 04 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2026/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 05 năm 2026, giữa:

- Nguyên đơn: Chị H’ B Kbuôr, sinh ngày 16/02/1996. Địa chỉ: Buôn K, xã H, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Y T Niê, sinh ngày 07/4/1995. Địa chỉ: Buôn Đ, xã E, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị H’ Bah Kbuôr trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh Y T Niê yêu nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 19/07/2017 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 93.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tính tình của cả hai không hòa hợp, không cùng quan điểm sống. Mặc dù vợ chồng cũng ngồi lại nói chuyện nhiều lần nhưng không thành, vẫn không có tiếng nói chung và sống ly thân từ năm 2022. Bản thân tôi cũng đã nộp đơn đến Tòa án nhưng sau đó suy nghĩ vì con nên tôi đã rút đơn và Tòa án đã đình chỉ theo Quyết định đình chỉ số 27/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2025 của TAND khu vực 4 - Đắk Lắk. Tuy nhiên sau khi quay về thì vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, vẫn sống ly thân. Bản thân anh Y T Niê thì ở tại Buôn Đ, xã E, tỉnh Đắk Lắk còn tôi thì ở tại Buôn K, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Hiện ai không ai quan tâm ai nữa.

Xét mục đích hôn nhân của chúng tôi không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn. Nên tôi đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án xin được ly hôn anh Y T Niê. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho tôi với anh Y T Niê được ly hôn.

- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa chúng tôi có 01 con chung là cháu H N Kbuôr, sinh ngày 05/9/2016. Hiện nay cháu còn nhỏ đang ở cùng với tôi. Nay vợ chồng ly hôn thì tôi có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cháu H N Kbuôr, sinh ngày 05/9/2016 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu anh Y T Niê phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chúng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chúng tôi không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra tôi không có yêu cầu gì thêm.

* Đối với bị đơn anh Y T Niê: Anh Y T Niê đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh nhưng anh Y T Niê không đến làm việc, không cung cấp lời khai. Vì vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Y T Niê.

Quá trình làm việc, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị H’ B Kbuôr vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Y T Niê. Do đó, căn cứ Điều 203 và Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự là nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Đối với bị đơn quá trình giải quyết vụ án, tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tại phiên tòa đều vắng mặt là vi phạm quy định tại các Điều 70, Điều 72 và khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H’ B Kbuôr được ly hôn với anh Y T Niê.

+ Về con chung: Giao cháu H N Kbuôr, sinh ngày 05/9/2016 cho chị H’ B Kbuôr được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

+ Về cấp dưỡng: Chị H’ B Kbuôr không yêu cầu anh Y T Niê phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đề cập để xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị H’ B Kbuôr xác định chị với anh Y T Niê không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy không đề cập để xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền: Căn cứ vào đơn khởi kiện thì bị đơn anh Y T Niê có nơi cư trú tại xã E, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị H’ B Kbuôr thì xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung khởi kiện: Chị H’ B Kbuôr làm đơn xin được ly hôn với anh Y T Niê. Hội đồng xét xử thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp kèm theo đơn khởi kiện và việc thu thập chứng cứ của Tòa án có trong hồ sơ thể hiện: Chị H’ B Kbuôr với anh Y T Niê kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại tại xã E, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 19/07/2017 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 93. Vì vậy, xác định hôn nhân giữa chị H’ B Kbuôr và anh Y T Niê là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn: Quá trình làm việc tại Tòa án thì chị H’ B Kbuôr khai nhận “Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tính tình của cả hai không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, anh chị sống ly thân từ năm 2022. Bản thân chị cũng đã nộp đơn đến Tòa án nhưng sau đó suy nghĩ vì con nên đã rút đơn và Tòa án đã đình chỉ theo Quyết định đình chỉ số 27/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14/8/2025 của TAND khu vực 4 - Đắk Lắk. Tuy nhiên sau khi quay về thì vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung, vẫn sống ly thân. Bản thân anh Y T Niê thì về ở tại Buôn Đ, xã E, tỉnh Đắk Lắk còn chị thì ở tại Buôn K, xã H, tỉnh Đắk Lắk...”. Theo biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương (BL 26-27) thể hiện “...Sau khi kết hôn thì anh chị có ở địa phương thời gian, sau đó anh Y T Niê cùng vợ về nhà vợ ở. Tuy nhiên từ năm 2022 thì thấy anh về tại Buôn Đ, xã E ở cùng bố mẹ đẻ mà không ở cùng với vợ con. Hiện nay anh đang sinh sống tại tại Buôn Đ, xã E và ở cùng với bố mẹ đẻ. Lý do vì sao anh không sống cùng vợ con thì địa phương không rõ....”.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ chung sống với nhau.

Như vậy, căn cứ vào tình trạng hôn nhân thực tế giữa chị H’ B Kbuôr với anh Y T Niê, xét mâu thuẫn giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H’ B Kbuôr yêu cầu xin được ly hôn đối với anh Y T Niê là có căn cứ. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H’ B Kbuôr, cho chị H’ B Kbuôr được ly hôn với anh Y T Niê.

- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa anh chị có với nhau 01 con chung là cháu H N Kbuôr, sinh ngày 05/9/2016. Hiện cháu còn nhỏ đang ở cùng với chị H’ B Kbuôr. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Căn cứ lời khai của cháu H N Kbuôr thì cháu có nguyện vọng được ở cùng với mẹ và bản thân chị H’ B Kbuôr có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu H N Kbuôr. Đối với anh Y T Niê đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh nhưng anh Y T Niê không đến làm việc, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của anh cho Tòa án. Vì vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Y T Niê.

Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử thấy: giao con chung cháu H N Kbuôr, sinh ngày 05/9/2016 cho chị H’ B Kbuôr trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi khi ly hôn là phù hợp.

Anh Y T Niê được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, anh Y T Niê không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa chị H’ B Kbuôr không yêu cầu anh Y T Niê phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét.

- Về tài sản, về nợ chung: Chị H’ B Kbuôr xác định chị và anh Y T Niê không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét.

Về án phí: Chị H’ B Kbuôr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 5, khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ B Kbuôr được ly hôn với anh Y T Niê.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu H N Kbuôr, sinh ngày 05/9/2016 cho chị H’ B Kbuôr trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Anh Y T Niê được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, anh Y T Niê không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.

4. Về tài sản chung và về nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.

5. Về án phí: Chị H’ B Kbuôr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số 0000068 ngày 06 tháng 01 năm 2026.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ