vanban.org

Bản án 34/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Trần Nhật Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trần Nhật Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (11/8/2025). 2/ Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Trần Nhật Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST
Ngày: 22-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ H CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần H đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Thuận.

Các H thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Binh;

2. Ông Nguyễn Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Chí Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Khắc Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Nhật Tr, sinh năm 2003, tại Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); Nơi cư trú: thôn Đức Tài 2, xã Hd, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; tiền án: không; tiền sự: Ngày 01/11/2024, Trần Nhật Tr bị UBND xã Trà Tân xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, nộp tiền phạt vào ngày 25/11/2024. Ngày 25/11/2024, Trần Nhật Tr bị Tòa án nhân dân Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận cũ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 14 tháng, đang chấp hành thì bị bắt tạm giam; con ông Trần Ngọc Nhật, sinh năm 1980 và con bà Trần Thị Thùy, sinh năm 1981, hiện cùng trú tại thôn Đức Tài 2, xã Hd, tỉnh Lâm Đồng; Gia đình có 03 anh em, Trần Nhật Tr là con thứ nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.

Bị cáo Trần Nhật Tr bị bắt ngày 11/8/2025 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam 02 tháng số 193 ngày 30/7/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực số 9, Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Lâm Đồng. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; nơi cư trú: Số nhà 68, đường Nguyễn Thị Định, thôn Võ Xu 7, xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Ngọc Gia H, sinh năm 2010; (vắng mặt do đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Tr giáo dưỡng số 17/2025/QĐ-TA ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Hện Đức Linh)

Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Ngọc Gia H: Ông Nguyễn Ngọc Chung, sinh năm 1991 và bà Nguyễn Thị Nha, sinh năm 1993;

Cùng nơi cư trú: Số 159, đường Lý Thường Kiệt, thôn Đức Tài 6, xã Hd, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt ông Chung)

+ Nguyễn Nhật Bảo K, sinh năm 2004; nơi cư trú: Tổ 1, thôn 2, xã Đức Hạnh, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận cũ (nay là xã Hd, tỉnh Lâm Đồng). vắng mặt

+ Nguyễn Phú H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ 11, thôn 4, xã Đức Hạnh, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận cũ (nay là xã Hd, tỉnh Lâm Đồng). có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 07/3/2025, Trần Nhật Tr rủ Nguyễn Ngọc Gia H đi trộm cắp tài sản để tiêu xài, H đồng ý. Tr điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 86H7-9780, hiệu Honda Wave alpha, chở theo H phía sau lưu thông trên các tuyến đường ở thị trấn Võ Xu, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, nay là xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng mục đích tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đi đến đường Trần Quý Cáp thuộc Khu phố 4, TT. Võ Xu, Hện Đức Linh, nay là thôn 4, xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng thì Tr và H phát hiện 01 xe mô tô biển số 86B8-377.78 của ông Nguyễn Văn T đang dựng trước cổng nhà số 12A đường Trần Quý Cáp, trên xe có cắm chìa khóa nên Tr và H rủ nhau lấy trộm xe mô tô trên. Tr dừng xe mô tô biển số 86H7-9780 vào bên đường, H xuống xe đi tới chổ xe mô tô biển số 86B8-377.78, ngồi lên xe, nổ máy và điều khiền xe chạy về hướng đường Nguyễn An Ninh. Trần Nhật Tr cũng điều khiển xe mô tô chạy về hướng ngược lại. Trong lúc Tr chạy trốn thì bị quần chúng nhân dân đuổi theo, bắt giữ giao cho cơ quan công an. Sau khi lấy trộm được xe mô tô biển số 86B8-377.78, Nguyễn Ngọc Gia H điều khiển xe chạy về hướng núi Dinh thuộc xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng. Trên đường đi về xã Nam Chính (cũ), Nguyễn Ngọc Gia H gỡ biển số xe mô tô vứt bên đường, không xác định được vị trí bỏ biển số 86B8-377.78. Khi đến đường Nguyễn Huệ thuộc khu phố 7, thị trấn Đức Tài, nay là thôn Đức Tài 7, xã Hd, tỉnh Lâm Đồng, H gặp Nguyễn Nhật Bảo K đang điều khiển xe mô tô trên đường đi rẫy về, H cùng K đi về nhà K ở thôn 2, xã Đức Hạnh, nay là thôn Đức Hạnh 2, xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng. Tại nhà K, H nhờ K bán giùm xe mô tô mà H vừa trộm được, H nói với K chiếc xe mô tô là của mẹ H. K đồng ý và mang xe mô tô trên đến tiệm sửa xe "Anh H" ở thôn 3, xã Đức Hạnh, Hện Đức Linh, này là thôn Đức Hạnh 3, xã Hd, tỉnh Lâm Đồng của ông Nguyễn Phú H, sinh năm 1987, trú tại thôn 3, xã Đức Hạnh, Hện Đức Linh, tỉnh BìnhThuận. Ông H hỏi K xe mô tô của ai, có phải xe ăn trộm không, K trả lời "xe của mẹ thằng bạn em, nó kẹt tiền nhờ em bán giùm, không phải xe ăn trộm” H thống nhất mua chiếc xe mô tô của K với giá 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng). K mang tiền bán xe về đưa lại cho H, H cho K 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), số tiền còn lại H sử dụng mục đích tiêu xài cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 4 năm 2025 của H đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Hện Đức Linh kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 hiệu Honda loại Wave RSX màu xanh –đen mua và sử dụng từ năm 2017, xe đăng ký ngày 21/9/2017 có giá trị 10.783.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 hiệu Honda loại Wave RSX màu xanh –đen của ông Nguyễn Văn T.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám vàng của Trần Nhật Tr.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 86H7-9780 hiệu wave alpha màu đen: chiếc xe này Trần Nhật Tr mượn của Dương Văn Hùng, sinh năm 2003, HKTT: thôn 3, xã Nam Chính, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn Nam Chính 3, xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng). Hùng khai mua xe tại một tiệm ve chai mang về sửa chữa lại để sử dụng, không có giấy đăng ký xe. Tra cứu nguồn gốc chủ xe là bà Phan Thị Quý, sinh năm 1961, cư trú tại thôn Ma Lâm 3, xã Hàm Thuận, tỉnh Lâm Đồng, bà Quý trình bày mua chiếc xe mô tô biển số 86H7-9780 năm 2016, sau đó đã bán lại cho người khác, không nhớ rõ bán cho ai vào thời gian nào.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSKV17-HS, ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Nhật Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

+ Bị cáo thừa nhận hành vi rủ Nguyễn Ngọc Gia H trộm cắp 01 (một) xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 hiệu Honda loại Wave RSX màu xanh – đen mua dựng trước cổng nhà số 12A đường Trần Quý Cáp, thị trấn Võ Xu, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận cũ (nay là xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng). Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 2.000.000đồng, để sửa chữa xe máy bị hư hỏng do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

+ Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000đồng, để sửa chữa xe máy bị hư hỏng do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đồng thời bị hại cho rằng hiện trạng số khung, số máy của xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 đã bị phá hỏng và đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ làm lại giấy tờ xe cho đảm bảo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phú H không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Trong phần tranh luận:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Lâm Đồng giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Trần Nhật Tr; đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173 và Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo; đề nghị xử phạt bị cáo mức án 18 đến 24 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng như đã trình bày trong cáo trạng.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Thưa H đồng xét xử, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cào là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, bị cáo mong H đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, H đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, nhận thấy việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, H đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, H đồng xét xử thấy đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 07/3/2025, Trần Nhật Tr rủ và điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 86H7-9780 chở Nguyễn Ngọc Gia H đi tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đi đến đường Trần Quý Cáp thuộc khu phố 4, TT. Võ Xu, Hện Đức Linh cũ (nay là thôn Võ Xu 4, xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng) thì Tr và H phát hiện 01 xe mô tô biển số 86B8-377.78 của ông Nguyễn Văn T đang dựng trước cổng nhà số 12A đường Trần Quý Cáp, trên xe có cắm chìa khóa. Tr dừng xe mô tô biển số 86H7-9780 vào bên đường, H xuống xe đi tới chổ xe mô tô biển số 86B8-377.78 ngồi lên xe, nổ máy và điều khiển xe chạy về hướng đường Nguyễn An Ninh. Trần Nhật Tr cũng điều khiển xe mô tô chạy về hướng ngược lại. Trong lúc Tr chạy trốn thì bị quần chúng nhân dân đuổi theo, bắt giữ. Nguyễn Ngọc Gia H trốn thoát và nhờ Nguyễn Nhật Bảo K đem bán xe mô tô biển số 86B8-377.78 cho ông Nguyễn Phú H để lấy số tiền 2.500.000đồng chia nhau tiêu xài cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 19/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 4 năm 2025 của H đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Hện Đức Linh kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 hiệu Honda loại Wave RSX màu xanh –đen mua và sử dụng từ năm 2017, xe đăng ký ngày 21/9/2017 có giá trị 10.783.000 đồng.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Tr đã thừa nhận hành vi rủ Nguyễn Ngọc Gia H trộm cắp 01 (một) xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 hiệu Honda loại Wave RSX màu xanh –đen mua dựng trước cổng nhà số 12A đường Trần Quý Cáp, thị trấn Võ Xu, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận cũ (nay là xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng). Bị cáo thống nhất với giá trị xe theo kết luận giám định.

Như vậy, hành vi do bị cáo Trần Nhật Tr thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Lâm Đồng truy tố Trần Nhật Tr về tội “trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã H; bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là thanh niên có sức khỏe để tự lao động tạo ra thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình; tuy nhiên, vì bản tính tham lam, bị cáo đã cố ý thực hiện đến cùng hành vi trộm cắp tài sản của người khác, đây là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi do bị cáo thực hiện đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản của mình, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bức xúc trong dư luận; do đó, cần áp dụng mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện; đồng thời, nhằm đấu tranh và phòng ngừa chung cho xã H.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc Tr hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do dó, H đồng xét xử quyết định áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng: Trần Nhật Tr xúi giục, rủ rê Nguyễn Ngọc Gia H, sinh năm 2010 (là người dưới 18 tuổi) cùng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, gia cảnh của bị cáo khó khăn, do đó H đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Việc bồi thường thiệt hại:

Bị hại đã nhận lại tài sản nhưng tài sản bị hư hỏng nên bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000đồng, để sửa chữa xe máy bị hư hỏng do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Nhận thấy, sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần công nhận trong bản án này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phú H trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường; do đó, H đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về vật chứng trong vụ án:

- 01 xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 hiệu Honda loại Wave RSX màu xanh –đen là tài sản của ông Nguyễn Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã trả lại cho ông Nguyễn Văn T là đúng quy định.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại cho rằng hiện trạng số khung, số máy của xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 đã bị bị cáo và Nguyễn Ngọc Gia H phá hỏng, bị hại không có lỗi trong vụ việc này; tuy rằng trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện tình trạng hư hỏng của xe mô tô 86B8-377.78, nhưng H đồng xét xử kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ bị hại Nguyễn Văn T trong việc phục hồi số khung, số máy của xe mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78, để bị hại sử dụng cho đảm bảo quy định của pháp luật.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 86H7-9780 hiệu wave alpha màu đen: chiếc xe này Trần Nhật Tr mượn của Dương Văn Hùng, sinh năm 2003, HKTT: thôn 3, xã Nam Chính, Hện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn Nam Chính 3, xã Đức Linh, tỉnh Lâm Đồng). Hùng khai mua xe tại một tiệm ve chai mang về sửa chữa lại để sử dụng, không có giấy đăng ký xe. Tra cứu nguồn gốc chủ xe là bà Phan Thị Quý, sinh năm 1961, cư trú tại thôn Ma Lâm 3, xã Hàm Thuận, tỉnh Lâm Đồng, bà Quý trình bày mua chiếc xe mô tô biển số 86H7-9780 năm 2016, sau đó đã bán lại cho người khác, không nhớ rõ bán cho ai vào thời gian nào. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tạm giữ để xác minh, làm rõ nguồn gốc và xử lý sau.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xám vàng của Trần Nhật Tr không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo bị buộc tội nên phải cần nghĩa vụ đối với Nhà nước và nghĩa vụ bồi thường cho bị hại, do đó đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án về dân sự.

Đối với hành vi của Nguyễn Ngọc Gia H tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm, Gia H còn dưới 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự và lập hồ sơ đề nghị xử lý hành chính là đúng quy định.

Đối với hành vi của Nguyễn Nhật Bảo K, ông Nguyễn Phú H không biết mô tô biển số kiểm soát 86B8-377.78 là tài sản do trộm cắp mà có; do đó, cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Nhật Bảo K, ông Nguyễn Phú H là đúng quy định.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với những nhận nêu trên.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1/ Tuyên bố: Trần Nhật Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trần Nhật Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (11/8/2025).

2/ Về biện pháp tư pháp:

2.1/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 587, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 7 của Nghị quyết 02/2022/HĐTP ngày 06/9/2022 của H đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điểm b khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của H đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần Nhật Tr và bị hại Nguyễn Văn T tại phiên tòa, cụ thể: Bị cáo Trần Nhật Tr đồng ý bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn Tr số tiền 2.000.000 (bằng chữ: hai triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ Tr hợp pháp luật có quy định khác.

2.2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho Trần Nhật Tr 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung màu xám vàng. (Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 17 – Lâm Đồng theo biên bản giao nhận lập vào ngày 18/9/2025)

3/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc H, buộc: Bị cáo Trần Nhật Tr phải nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng

4/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ