vanban.org

Bản án 34/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 09/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01-4-2025.

Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Taurus, màu đỏ, đen biển số 70L9-1292, số khung RLCS16S20AY143003, số máy 16S2143000. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh T_Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01-4-2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST
Ngày: 09-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Liêm – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Minh T, sinh năm 1992, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn (văn hóa): 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K (đã chết) và bà Lê Thị L (đã chết); vợ và con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 24-11-2015, bị Công an Huyện D, tỉnh Tây Ninh xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt); bị bắt, bị tạm giữ ngày 01-4-2025, bị tạm giam ngày 10-4-2025, tại Phân Trại tạm giam khu vực VI – Trại tạm giam Công an tỉnh T cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Anh Phan Thanh G, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp N, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 01-4-2025, do muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên Phạm Minh T chuẩn bị 01 cây kéo và 02 cây kềm, rồi điều khiển xe môtô biển số 70L9-1292 đi tìm tài sản người dân để lấy trộm. Khi đến khu vực ấp N, xã C, Huyện D, T phát hiện vườn sầu riêng của anh Phan Thanh G có 01 máy bơm nước có gắn đầu bơm áp để trên xe đẩy dùng để xịt thuốc sầu riêng, không người trông giữ nên T dừng xe, rồi dùng cây kéo cắt lưới hàng B40 đi vào bên trong đến chỗ xe đẩy. T dùng cây kéo cắt ống nước nối với máy bơm, rồi lấy trộm máy bơm gắn đầu bơm áp cùng với xe đẩy. Lúc này, anh G đến phát hiện T lấy trộm tài sản nên truy hô, rồi cùng người dân bắt quả tang T cùng vật chứng giao Công an xử lý.

Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 03-4-2025 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân Huyện D kết luận: 01 máy bơm nước công suất 2HP trị giá 1.533.000 đồng; 01 bơm tăng áp công suất 1,5HP trị giá 1.067.000 đồng; 01 giàn kim loại trị giá 267.000 đồng; 01 xe đẩy kim loại trị giá 233.000 đồng; tổng tài sản trị giá 3.100.000 đồng.

Việc thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (Một) máy bơm nước, công suất 2HP, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (Một) bơm tăng áp, công suất 1,5HP, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) giàn kim loại, đã qua sử dụng; 01 (Một) xe dây kim loại, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Taurus, màu đỏ, đen, biển số 70L9-1292, số khung RLCS16S20AY143003, số máy 16S2143000; 01 (Một) cây kéo bằng kim loại, cán được bọc bằng nhựa màu đỏ; 01 (Một) cây kềm bằng kim loại, cán được bọc bằng nhựa màu cam; 01 (Một) cây kềm bằng kim loại, cản được bọc bằng nhựa màu xanh, viên màu vàng. Công an đã trả lại cho anh Phan Thanh G: 01 (Một) máy bơm nước, công suất 2HP, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (Một) bơm tăng áp, công suất 1,5HP, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) giàn kim loại, đã qua sử dụng; 01 (Một) xe dây kim loại, màu xanh, đã qua sử dụng.

Về kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện bị cáo không có sở hữu tài sản riêng nên Cơ quan điều tra không kê biên.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Thanh G đã nhận tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và vật chứng bị thu giữ đúng nội dung Quyết định truy tố của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 42/QĐ-VKSDMC ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Anh Phan Thanh G đã nhận tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát, bị cáo xin nhận lại tài sản là 01 (Một) xe mô tô, nhân hiệu Yamaha, số loại Taurus, màu đỏ, đen, biển số 70L9-1292.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Do muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên Phạm Minh T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 09 giờ, ngày 01-4-2025 Phạm Minh T chuẩn bị 01 cây kéo và 02 cây kềm, rồi điều khiển xe môtô biển số 70L9-1292 đến khu vực ấp N, xã C, Huyện D, T phát hiện vườn sầu riêng của anh Phan Thanh G có 01 máy bơm nước có gắn đầu bơm áp để trên xe đẩy dùng để xịt thuốc sầu riêng, không người trông giữ nên T dừng xe, rồi dùng cây kéo cắt lưới hàng B40 đi vào bên trong đến chỗ xe đẩy. T dùng cây kéo cắt ống nước nối với máy bơm, rồi lấy trộm máy bơm gắn đầu bơm áp cùng với xe đẩy. Lúc này, anh G đến phát hiện T lấy trộm tài sản nên truy hô, rồi cùng người dân bắt quả tang T cùng vật chứng giao Công an xử lý. Tổng giá trị tài sản là 3.100.000 đồng. Diễn biến hành vi của bị cáo thực hiện và vật chứng bị thu giữ như nội dung quyết định truy tố của Viện kiểm sát đã truy tố.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phạm Minh T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáoTùng có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã được xóa. Do lười lao động muốn có tiền để mua ma túy sử dụng nên bị cáo T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác có giá trị là 3.100.000 (Ba triệu một trăm nghìn) đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Minh T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội nên cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định nhằm cải tạo giáo dục răn de, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Biện pháp tư pháp:

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Taurus, màu đỏ, đen, biển số 70L9-1292, số khung RLCS16S20AY143003, số máy 16S2143000. Cơ quan điều tra xác minh thể hiện xe mô tô trên do ông Phạm Văn T1 là chủ sở hữu và ông T2 đã chuyển nhượng khác không rõ địa chỉ cụ thể và không làm thủ tục sang tên. Bị cáo Phạm Minh T thừa nhận xe bị cáo mua lại của 01 người bán xe cũ và cũng không làm thủ tục sang tên. Bị cáo T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Do đó, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (Một) cây kéo bằng kim loại, cán được bọc bằng nhựa màu đỏ; 01 (Một) cây kềm bằng kim loại, cán được bọc bằng nhựa màu cam; 01 (Một) cây kềm bằng kim loại, cán được bọc bằng nhựa màu xanh, viên màu vàng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.

Ghi nhận Cơ quan Điều tra đã trả lại cho anh Phan Thanh G: 01 (Một) máy bơm nước, công suất 2HP, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (Một) bơm tăng áp, công suất 1,5HP, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) giàn kim loại, đã qua sử dụng và 01 (Một) xe dây kim loại, màu xanh, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phan Thanh G đã nhận tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Phạm Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01-4-2025.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Taurus, màu đỏ, đen biển số 70L9-1292, số khung RLCS16S20AY143003, số máy 16S2143000.

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) cây kéo bằng kim loại, cán được bọc bằng nhựa màu đỏ; 01 (Một) cây kềm bằng kim loại, cán được bọc bằng nhựa màu cam; 01 (Một) cây kềm bằng kim loại, cán được bọc bằng nhựa màu xanh, viên màu vàng.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đề ngày 28-5-2025)

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh Phan Thanh G đã nhận tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Phạm Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

5. Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ