- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Lam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Ngọc Hà
Ông Lê Văn Danh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Công Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 87/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/4/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị C. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, thành phố Cần Thơ (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/02/2025, nguyên đơn bà Phạm Thị C trình bày:
Nguyên vào năm 2005, bà Phạm Thị C và ông Nguyễn Văn T quen nhau có làm lễ cưới theo đúng phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 11/09/2007 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Bà C và ông T chung sống với nhau được 02 người con chung gồm: Cháu Nguyễn Thị Bảo T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 29/05/2005 và cháu Nguyễn Thị Ngọc M (giới tính Nữ), sinh ngày 13/11/2010.
Bà C và ông T chung sống với nhau thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nên cuộc sống giữa bà C và ông T không hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được. Bà C và ông T đã sống ly thân nhiều năm nay.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Nay bà Phạm Thị C yêu cầu Toà án giải quyết:
Về hôn nhân: Bà Phạm Thị C yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về con chung: Hiện tại cháu Nguyễn Thị Bảo T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 29/05/2005 đã đủ tuổi trưởng thành và có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết. Cháu Nguyễn Thị Ngọc M (giới tính Nữ), sinh ngày 13/11/2010 hiện đang sống ổn định cùng bà Phạm Thị C nên sau khi ly hôn bà Phạm Thị C xin được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Ngọc M (giới tính Nữ), sinh ngày 13/11/2010 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu xem xét, giải quyết
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Nguyễn Văn T, nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay, ông Nguyễn Văn T vắng mặt, không tham gia tố tụng, không gửi cho Tòa án văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Nguyên đơn bà Phạm Thị C có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, là chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị C đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T, giải quyết cho bà Phạm Thị C và ông Nguyễn Văn T ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Nguyễn Thị Ngọc M (giới tính Nữ), sinh ngày 13/11/2010 cho bà Phạm Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Đối với cháu Nguyễn Thị Bảo T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 29/05/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên bà Phạm Thị C không yêu cầu giải quyết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phạm Thị C không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị C tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Phạm Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T; Về con chung: Đối với cháu Nguyễn Thị Bảo T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 29/05/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên bà không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Thị Ngọc M (giới tính Nữ), sinh ngày 13/11/2010 thì bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ) thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn bà Phạm Thị C có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C và ông Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11/9/2007 cho nên quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị C và ông Nguyễn Văn T là hợp pháp. Bà Phạm Thị C trình bày trong quá trình chung sống, giữa bà và ông Nguyễn Văn T phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đã không còn chung sống nhiều năm. Cho nên bà Phạm Thị C đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các đương sự đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm tìm ra được cách thức để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng và khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng có thể đoàn tụ với nhau, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay bị đơn ông Nguyễn Văn T không có ý kiến, cũng không đến tham dự phiên hòa giải, cũng không đến tham gia phiên tòa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa hai người là trầm trọng, cuộc sống chung không có cơ sở để tồn tại, dẫn đến mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không thể đạt được. Do vậy việc bà Phạm Thị C yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị C và giải quyết cho bà Phạm Thị C được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống thì bà Phạm Thị C và ông Nguyễn Văn T có 02 con chung gồm cháu Nguyễn Thị Bảo T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 29/05/2005 và cháu Nguyễn Thị Ngọc M (giới tính Nữ), sinh ngày 13/11/2010. Đối với cháu Nguyễn Thị Bảo T1 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Thị Ngọc M thì bà Phạm Thị C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, hiện nay cháu Nguyễn Thị Ngọc M đang sống chung với bà Phạm Thị C, được bà C chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, cháu cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà C, phía ông Nguyễn Văn T cũng không có ý kiến phản đối về việc bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu Nguyễn Thị Ngọc M, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Nguyễn Thị Ngọc M cho bà Phạm Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Phạm Thị C không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị C tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Từ những phân tích nêu trên nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị C phải chịu án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn số tiền 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị C.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị C được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- Về con chung:
Đối với cháu Nguyễn Thị Bảo T1 (giới tính Nữ), sinh ngày 29/05/2005 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên bà Phạm Thị C không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Giao cháu Nguyễn Thị Ngọc M (giới tính Nữ), sinh ngày 13/11/2010 cho bà Phạm Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 (Mười tám) tuổi. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Phạm Thị C không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị C tự trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Phạm Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0005966 ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Cần Thơ). Như vậy, bà Phạm Thị C đã nộp xong án phí sơ thẩm. Bị đơn ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí sơ thẩm.
Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để xin Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND Khu vực 6 – Cần Thơ; - Phòng THADS Khu vực 6 – Cần Thơ; - Cơ quan cấp giấy chứng nhận kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Lam |