- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hoàng Trúc L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Trúc L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/09/2025 V/v: Kiện Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quang Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lan.
2. Ông Ngô Văn Tuyển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Vịnh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 09 năm 2025, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 272/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 08 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 08 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Trúc L, sinh ngày 11/03/2003 (Vắng mặt có đơn xin vắng).
Nơi thường trú: Thôn 6, xã H, thành phố B (Nay là Thôn 6, Phường T), tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Phan Duy H, sinh ngày 20/04/1992 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Thôn T, xã E, huyện K (Nay là Thôn Tân Lập 3, xã Ea
Phê), tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Trúc L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi Nguyễn Hoàng Trúc L và ông Phan Duy H đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, chúng tôi tổ chức lễ cưới năm 2023 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, thành phố B (Nay là Ủy ban nhân dân phường A), tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận kết hôn số 115, ngày 30/10/2023. Sau khi về chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính cách không hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vả, không tôn trọng nhau trong cuộc sống. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên tháng 10 năm 2024 trong lúc tôi đang mang thai tôi đã về nhà ba mẹ đẻ ở xã T, thành phố B sinh sống và vợ chồng đã chính thức sống ly thân từ thời gian đó cho cho đến nay, vợ chồng ai biết bổn phận người đó, ông H thỉnh thoảng có ghé nhà ngoại để thăm tôi vài lần, đến khi tôi sinh con ông H cũng ghé một vài lần thăm tôi và con và từ tháng 5 đến nay vợ chồng không gặp nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông H để tôi ổn định cuộc sống và chăm lo cho con nhỏ.
- Về con chung: Tôi và ông Phan Duy H có 01 con chung là cháu Phan Nguyễn Đ, sinh ngày 05/04/2025. Từ khi sinh cháu Đ cho đến nay tôi là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Nếu ly hôn tôi có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Nguyễn Đ cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tôi không yêu cầu ông H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Duy H không đến Tòa án làm việc, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Hoàng Trúc L được ly hôn với ông Phan Duy H.
Về con chung: Giao con chung Phan Nguyễn Đ, sinh ngày 05/04/2025 cho bà Nguyễn Hoàng Trúc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Hoàng Trúc L không yêu cầu, nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Hoàng Trúc L không yêu cầu, nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Trúc L khởi kiện xin ly hôn đối với ông Phan Duy H, thường trú tại Thôn T, xã E, huyện K (Nay là Thôn T, xã P), tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 BLTTDS, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc (Nay là TAND khu vực 4 – Đắk Lắk) thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn ly hôn đề ngày 04 tháng 06 năm 2025 của bà Nguyễn Hoàng Trúc L, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Trúc L, bị đơn ông Phan Duy H tại phiên toà: Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phan Duy H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 12/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2025, tuy nhiên ông H vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Trúc L, bị đơn ông Phan Duy H là có căn cứ.
. Xét về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Trúc L:
. Xét về quan hệ hôn nhân:
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H là hợp pháp, được pháp luật công nhận thể hiện tại giấy chứng nhận đăng ký kết hôn 115 do Uỷ ban nhân dân xã T, thành phố B (Nay là Ủy ban nhân dân phường A), tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 30/10/2023. Quá trình thu thập chứng cứ, bà L trình bày: “Nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân do tính cách của vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tôn trọng nhau. Vì vậy vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 đến nay, ông H chỉ thình thoảng ghé thăm vài lần”. Do ông Phan Duy H không tham gia tố tụng tại Toà án nên Toà án không ghi nhận được ý kiến của ông H để xác định tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa ông Phan Duy H và bà Nguyễn Hoàng Trúc L.
Để có sơ sở pháp lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Hoàng Trúc L và ông Phan Duy H. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương (Bút lục số 33) cung cấp như sau: “Chính quyền địa phương có nghe thông tin vợ chồng ông H, bà L sống chung không hạnh phúc nhưng nguyên nhân cụ thể mâu thuẫn của vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm được. Tuy nhiên thực tế bà Nguyễn Hoàng Trúc L và ông Phan Duy H đã không còn sống chung với nhau, từ khi mang thai bà L đã về nhà ba mẹ đẻ ở thành phố B sinh sống và không thấy về lại địa phương…”.
Căn cứ lời khai của bà L và nội dung của chính quyền địa phương cung cấp, nhận thấy: Bà L và ông H sống ly thân từ tháng 10 năm 2024, thỉnh thoảng ông H mới ghé thăm vợ, từ tháng 5 cho đến nay ông H cũng không hỏi thăm vợ con, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, điều đó chứng minh, hôn nhân giữa ông H, bà L không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Căn cứ vào điều luật viện dẫn nêu trên, xét thấy việc bà Nguyễn Hoàng Trúc L xin ly hôn ông Phan Duy H là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Nguyễn Hoàng Trúc L và ông Phan Duy H có 01 con chung là cháu Phan Nguyễn Đ, sinh ngày 05/04/2025. Hiện nay cháu Đ do bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Trong quá trình thu thập chứng cứ, ông H không đến Toà án làm việc nên Toà án không ghi nhận được ý kiến của ông H về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Trong quá trình làm việc, bà L có nguyện vọng xin được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi dưỡng khi bố mẹ ly hôn cần xem xét mọi mặt cuộc sống của các cháu nên Toà án đã tiến hành xác minh điều kiện nuôi con của bà L và ông H. Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương (Bút lục số 33) cung cấp thì: “Tại địa phương ông H, bà L chưa có tài sản riêng gì, ông H làm lao động tự do, địa phương cũng không nắm rõ được điều kiện kinh tế của ông H, bà L”.
Bà Nguyễn Thị Trúc Ly trình bày của bà L và kết quả xác minh tại địa phương, nhận thấy: Bà L hiện nay bà đang ở nhà buôn bán tự do, thu nhập trung bình khoảng 5.000.000 đồng/tháng và đang sống cùng ba mẹ nên có đủ điều kiện để chăm sóc con chung. Hiện nay con chung của vợ chồng ông bà cháu Phan Nguyễn Đ mới được 5 tháng 10 ngày và bà L đang là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.
Tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình quy định:
“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Căn cứ vào điều luật viện dẫn nêu trên việc giao cháu Phan Nguyễn Đ, sinh ngày 05/04/2025 cho bà Nguyễn Hoàng Trúc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là có căn cứ, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi của con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Hoàng Trúc L không yêu cầu nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Hoàng Trúc L không yêu cầu nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Trúc L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
. Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Đắk Lắk là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 203; Điều 220; khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; khoản 3 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Trúc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Hoàng Trúc L được ly hôn với ông Phan Duy H.
- Về con chung: Giao con chung cháu Phan Nguyễn Đ, sinh ngày 05/04/2025 cho bà Nguyễn Hoàng Trúc L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Đ đủ18 tuổi.
Ông Phan Duy H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Phan Duy H không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Toà án thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Bà Nguyễn Hoàng Trúc L không yêu cầu ông Phan Duy H cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Hoàng Trúc L không yêu cầu nên Toà án không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng Trúc L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực M- Đắk Lắk) theo biên lai số 0003306 ngày 16 tháng 06 năm 2025.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 4- Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đ; - UBND phường T, - Các đương sự; - Lưu hồ sơ,VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Quang Vinh |