vanban.org

Bản án 34/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ –ST
Ngày: 22- 4- 2025
V/v tranh chấp:
“Ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lý Hồng Hạnh

2/ Ông Lý Văn Til

- Thư ký Tòa án - Ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tƣởng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Lƣ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2025. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Chanh Đ, sinh năm 1992. (Xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Sa Bâu, xã Thuận Hòa, huyện C, tỉnh Sóc T.

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Thới Thanh B, xã Trường X, huyện T, TP. C.

Con chung cần triệu tập: Nguyễn Thanh A, sinh ngày 01/01/2011.

Địa chỉ: ấp Thới Thanh B, xã Trường X, huyện T, TP. C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phía nguyên đơn bà Thạch Thị Chanh Đ xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh V.

Bà Thạch Thị Chanh Đ (nguyên đơn) có lời khai: Bà và ông Nguyễn Thanh V chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn trễ hạn vào ngày 10 tháng 7 năm 2014 tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai. Sau khi thành hôn về chung sống tại ấp Thới Thanh B, xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai. Đến năm 2017 thì bà và ông V ly thân nhau cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc ly thân là do vợ chồng tính tình không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, chung sống không còn hạnh phúc. Trong quá trình chung sống thì bà và ông V có 01 người con chung tên Nguyễn Thanh A, sinh ngày 01/01/2011 đang do ông V trực tiếp nuôi dưỡng.

Tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông Nguyễn Thanh V không thiếu nợ ai cũng như không ai thiếu nợ ông, bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông V nên xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh V. Về con chung: Bà đồng ý giao con chung là Nguyễn Thanh A cho ông V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, bà không phải cấp dưỡng nuôi con. Do bận công việc nên bà xin hòa giải, xét xử vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Ông Nguyễn Thanh V không có mặt theo thông báo, triệu tập của Tòa án nên không có lời khai. Đối với ông Nguyễn Thanh V thì Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Nguyễn Thanh V đã vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không rõ lý do.

Cháu Nguyễn Thanh A không có mặt theo thông báo và triệu tập của Tòa án nên không có lời khai.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập xét xử hợp lệ.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. (Có bài phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Thạch Thị Chanh Đ là nguyên đơn trong vụ án có yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Thanh V là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Tòa án căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị Chanh Đ và ông Nguyễn Thanh V có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã Trường Xuân B, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Bà Thạch Thị Chanh Đ vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh V. Đối với ông Nguyễn Thanh V thì từ lúc thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhưng ông V vẫn vắng mặt tại các phiên tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không rõ lý do. Vấn đề này thấy rằng: Ông V không có mặt để tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử cho thấy ông V không còn quan tâm đến vấn đề hôn nhân giữa ông và bà Thạch Thị Chanh Đ. Xét mâu thuẩn vợ chồng của bà Đ và ông V đã đến mức trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục chung sống không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hội đồng xét xử nghĩ cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đ. Cho bà Thạch Thị Chanh Đ ly hôn với ông Nguyễn Thanh V là đúng với thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Cháu Nguyễn Thanh A sinh ngày 01/01/2011 đang do ông Nguyễn Thanh V trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Đ cũng đồng ý cho ông Nguyễn Thanh V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thanh A mà không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, cần giao Nguyễn Thanh A sinh ngày 01/01/2011 cho ông Nguyễn Thanh V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, bà Đ không phải cấp dưỡng nuôi con là đúng với thực tế.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ khai không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Cần dành cho ông Nguyễn Thanh V một vụ kiện dân sự khác liên quan đến vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung (nếu có).

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Cần buộc Bà Thạch Thị Chanh Đ chịu nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH

Áp dụng Điều 28, 35, 39, Khoản 4 Điều 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Aùp duïng Điều 56, 82, 83, 84 cuûa Luaâät Hoân nhaân vaø Gia ñìnhï;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Thạch Thị Chanh Đ. Cho bà Thạch Thị Chanh Đ và ông Nguyễn Thanh V được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao Nguyễn Thanh An sinh ngày 01/01/2011 cho ông Nguyễn Thanh V tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Bà Thạch Thị Chanh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con

Bà Thạch Thị Chanh Đ được quyền lui tới thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ khai không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Dành cho ông Nguyễn Thanh V một vụ kiện dân sự khác liên quan đến vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung (nếu có).

Về án phí: Buộc bà Thạch Thị Chanh Đ nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004636 ngày 24/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại ủy ban nhân dân địa phương đối với đương sự vắng mặt để Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ