- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng S "tranh chấp hợp đồng tín dụng" Đỗ Hoàng A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Đỗ Hoàng A về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2025/DS-ST Ngày: 12-8-2025 Về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Tâm.
Ông Võ Đức Huy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn - Thư ký Tòa án khu vực 1 – Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 126/2025/TLST-DS ngày 29/4/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-DS ngày 03/7/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Địa chỉ: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, X, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nhật Kinh Kha - Chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH Quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng Sài gòn S. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Đỗ Hoàng A, sinh năm 1986. Địa chỉ: 64/5 ấp 5, xã T, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 09/12/2024 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và lời trình bày của người đại diện ông Nguyễn Nhật Kinh Kha trong quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau: Ngày 20/09/2017 ông A có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông A, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,15%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng ông A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 17.457.700 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông A đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 10.210.395 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông A vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/04/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 12/8/2025, ông A còn nợ gốc 15.696.142 đồng; lãi quá hạn 39.246.598 đồng; tổng cộng 54.942.740 đồng. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 15.696.142 đồng với suất quá hạn là 3,225%/tháng. Từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Đỗ Hoàng A, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông Đỗ Hoàng A vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Hoàng A tổng số tiền đến ngày 12/8/2025 là 54.942.740 đồng, trong đó nợ gốc 15.696.142 đồng; lãi quá hạn 39.246.598 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 13/8/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Bị đơn ông Đỗ Hoàng A đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần thông báo về phiên hòa giải nhưng ông A không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và cũng không tham gia hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh: Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Thẩm phán thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S với ông Đỗ Hoàng A là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Đỗ Hoàng A đã được thông báo việc mở phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Đỗ Hoàng A theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ký với ông Đỗ Hoàng A hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Đỗ Hoàng A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 17.457.700 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Đỗ Hoàng A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 10.210.395 đồng. Mục đích vay là tiêu dùng cá nhân; Lãi suất tại thời điểm cấp thẻ: 2,15%/tháng; Lãi suất trong hạn hiện tại: 2,15%/tháng (lãi suất quá hạn: 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại); Thời hạn thanh toán: Chủ thẻ phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền đến hạn hoặc số tiền tối thiểu và hoặc trước ngày đến hạn được ghi trên thông báo giao dịch; Phương thức thanh toán: Nộp tiền mặt/Chuyển khoản/Trích nợ tự động từ tài khoản thanh toán. Hình thức vay là tín chấp. Do ông Đỗ Hoàng A vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 01/4/2019, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đỗ Hoàng A vẫn không có thiện chí trả nợ. Đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Đỗ Hoàng A trả nợ nhưng ông A vẫn không trả nợ. Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Hoàng A trả nợ gốc vay 15.696.142 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự.
Về lãi suất: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cùng với ông Đỗ Hoàng A đã thỏa thuận mức lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn phù hợp với Luật Các Tổ chức tín dụng. Vì vậy, ông A phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền nợ lãi tính đến ngày 12/8/2025 là 39.246.740 đồng như Ngân hàng đã yêu cầu.
Từ các phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc ông Đỗ Hoàng A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền gốc là 15.696.142 đồng, tiền lãi tính đến ngày 12/8/2025 là 39.246.598 đồng. Kể từ ngày 13/8/2025 ông Đỗ Hoàng A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Tại phiên tòa, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh là phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Đỗ Hoàng A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Đỗ Hoàng A về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Đỗ Hoàng A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền gốc là 15.696.142 đồng, tiền lãi tính đến ngày 12/8/2025 là 39.246.598 đồng, tổng cộng là 54.942.740 đồng. Kể từ ngày 13/8/2025, ông Đỗ Hoàng A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
2. Về án phí: Buộc ông Đỗ Hoàng A phải chịu 2.747.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S 1.222.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 009682 ngày 29/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Tây Ninh).
3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/8/2025). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 1 – Tây Ninh; - Phòng THADS khu vực 1 – Tây Ninh; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lưu Thủy |