- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" bà Nguyễn Hoàng O"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bà Nguyễn Hoàng Oanh về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2025/DS-ST Ngày: 14 - 01 - 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Xuân Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nguyên
2. Bà Trần Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 618/2024/TLST–DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 997/2024/QĐXXST–DS ngày 29 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 836/2024/QĐST–DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
Địa chỉ trụ sở: N, Phường V, Quận B, Thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức danh: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH Một thành viên Q
(Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2022)
Ủy quyền lại cho: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971
Địa chỉ liên hệ: N, Phường V, Quận B, Thành phố H.
(Văn bản ủy quyền ngày 03/6/2024)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Hoàng O, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện B, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/6/2024 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S do ông Trần Gia T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 19/6/2019 bà Nguyễn Hoàng O có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019) với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng S). Căn cứ vào thu nhập của bà O, Ngân hàng S đã đồng ý cấp cho bà O 01 (một) Thẻ tín dụng Visa, số thẻ 472075-4077, hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.
Kể từ ngày được cấp và kích hoạt thẻ tín dụng, bà O đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 275.056.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng) và chỉ thanh toán lại cho Ngân hàng S số tiền 250.556.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn đồng) theo thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Sau đó, bà O đã không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận mặc dù đã được Ngân hàng S nhiều lần nhắc nhở.
Do bà O vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên ngày 23/8/2020 Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà O và đồng thời chuyển toàn bộ dư nợ tính đến ngày 23/8/2020 của bà O là 28.952.666 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) thành nợ gốc, áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc là 3,9%/tháng theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Nay Ngân hàng S yêu cầu bà O phải thanh toán cho Ngân hàng S số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019 tính đến ngày 22/5/2024 là 80.479.088 đồng (Tám mươi triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn không trăm tám mươi tám đồng), trong đó dư nợ gốc là 28.952.666 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) và tiền lãi quá hạn là 51.526.422 đồng (Năm mươi mốt triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi hai đồng). Ngoài ra, bà O còn phải thanh toán cho Ngân hàng S tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký từ ngày 23/5/2024 cho đến khi trả hết nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Hoàng O đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bà O vẫn vắng mặt, không rõ lý do; bà O cũng không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn Ngân hàng S vẫn giữ nguyên yêu cầu bà Nguyễn Hoàng O phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019 tính đến ngày 14/01/2025 là 89.399.294 đồng (Tám mươi chín triệu ba trăm chín mươi chín nghìn hai trăm chín mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 28.952.666 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng), tiền lãi quá hạn là 60.446.628 đồng (Sáu mươi triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng); và yêu cầu bà O tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng S tiền lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký từ ngày 15/01/2025 cho đến khi trả hết nợ.
- Bị đơn bà Nguyễn Hoàng O vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tò và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Hoàng O trả số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019. Đây là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019 thể hiện bị đơn bà Nguyễn Hoàng O cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Nguyễn Hoàng O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà O.
. Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019 gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 19/6/2019, Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được bà Nguyễn Hoàng O và đại diện Ngân hàng S ký tên xác nhận có cơ sở xác định bà O đã được Ngân hàng S đồng ý cấp cho 01 (một) Thẻ tín dụng Visa có số thẻ là 472075-4077 với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) để tiêu dùng cá nhân.
Việc giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019 giữa Ngân hàng S và bà O là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đã phát sinh hiệu lực; phù hợp với các quy định tại Điều 117, Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.
. Theo nội dung được ghi nhận trong Bảng tóm tắt sao kê ngày 14/01/2025 xác định:
- Từ ngày 22/7/2019 đến ngày 22/4/2020 bà O đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 275.056.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
- Từ ngày 22/7/2019 đến ngày 22/4/2020 bà O đã nhiều lần thanh toán cho Ngân hàng S với tổng số tiền là 250.556.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn đồng), nhưng vi phạm thời hạn thanh toán nên phát sinh các khoản lãi và phí được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng.
- Tính đến ngày 14/01/2025 bà O còn nợ Ngân hàng S tổng số tiền là 89.399.294 đồng (Tám mươi chín triệu ba trăm chín mươi chín nghìn hai trăm chín mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 28.952.666 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng), tiền lãi quá hạn là 60.446.628 đồng (Sáu mươi triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng).
. Theo quy định tại Điều 20 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì số tiền bà O đã trả cho Ngân hàng S sẽ được áp dụng thanh toán theo thứ tự như sau: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước; Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước; Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước; Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ; Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ; Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Ngày 23/8/2020 Ngân hàng S chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà O và tính đến ngày 23/8/2020 số tiền bà O còn nợ Ngân hàng S là 28.952.666 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) đã được Ngân hàng S chuyển sang nợ gốc quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
. Căn cứ Quyết định số 935/2019/QĐ-TTT ngày 27/3/2019 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ S phát hành tại Việt Nam và Điều 22, Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với thẻ tín dụng Visa là 2,6%/tháng và mức lãi suất quá hạn là 3,9%/tháng.
. Ngân hàng S yêu cầu bà O phải thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019 tính đến ngày 14/01/2025 là 89.399.294 đồng (Tám mươi chín triệu ba trăm chín mươi chín nghìn hai trăm chín mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 28.952.666 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng), tiền lãi quá hạn là 60.446.628 đồng (Sáu mươi triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng); và yêu cầu bà O tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/01/2025 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
. Đối với bà Nguyễn Hoàng O, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng bà O vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S xem như bà O từ bỏ quyền lợi và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S.
. Xét thấy, bà O không thanh toán cho Ngân hàng S số tiền nợ phát sinh từ các giao dịch sử dụng thẻ tín dụng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Ngân hàng S yêu cầu bà O có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019 tính đến ngày 14/01/2025 là 89.399.294 đồng (Tám mươi chín triệu ba trăm chín mươi chín nghìn hai trăm chín mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 28.952.666 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng), tiền lãi quá hạn là 60.446.628 đồng (Sáu mươi triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng); và yêu cầu bà O tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 15/01/2025 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định tại Điều 351, Điều 352, Điều 357, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S và Quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có căn cứ, phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
. Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 117, Điều 280, Điều 351, Điều 352, Điều 357, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bà Nguyễn Hoàng Oanh về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc bà Nguyễn Hoàng O có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/6/2019 là 89.399.294 đồng (Tám mươi chín triệu ba trăm chín mươi chín nghìn hai trăm chín mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 28.952.666 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng), tiền lãi quá hạn là 60.446.628 đồng (Sáu mươi triệu bốn trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng).
Các đương sự thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 15/01/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Hoàng O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.469.965 đồng (Bốn triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng).
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.011.977 đồng (Hai triệu không trăm mười một nghìn chín trăm bảy mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004326 ngày 09/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Xuân Hương |